Thứ Hai, ngày 12 tháng 1 năm 2026

Việt Nam xuất khẩu được trên 8 triệu tấn gạo

Xuất khẩu gao. (Ảnh: TTXVN)

Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu gạo đạt hơn 8,06 triệu tấn, thu về trên 4,1 tỷ USD, giảm 10,8% về khối lượng và giảm 27,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024.

Theo thống kê mới nhất của Cục Hải quan, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu gạo đạt hơn 8,06 triệu tấn, thu về trên 4,1 tỷ USD, giảm 10,8% về khối lượng và giảm 27,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024, phản ánh rõ tác động của xu hướng giảm giá gạo trên thị trường thế giới năm qua.

Giá gạo 5% tấm của Việt Nam tuần qua được chào bán ở mức từ 360-365 USD/tấn. Một nhà giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết hoạt động mua bán đang chậm lại do nhu cầu bên ngoài yếu. Nhà giao dịch này dự báo, nhu cầu sẽ tiếp tục yếu khi Philippines và Indonesia có thể hạn chế mua vào trong khi nguồn cung từ Ấn Độ dự kiến sẽ tăng mạnh.

Tại thị trường trong nước, giá lúa gạo tuần qua ở Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động trước nhu cầu vẫn yếu từ thị trường.

Theo Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, tại Cần Thơ, tuần qua lúa Jasmine vẫn có giá là 8.400 đồng/kg, tương đương so với tuần trước; lúa IR 5451 là 6.200 đồng/kg; ST25 là 9.400 đồng/kg; OM 18 là 6.600 đồng/kg.

Tại Đồng Tháp, lúa IR 50404 có giá 6.900 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; OM 18 là 6.900 đồng/kg, cũng tăng 100 đồng/kg. Còn tại Vĩnh Long, lúa OM 5451 vẫn có giá 6.600 đồng/kg và OM 4900 là 7.100 đồng/kg.

Tại An Giang, giá các loại lúa tươi hầu hết vẫn giữ vững so với tuần trước, OM 18 ở mức 6.500-6.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 6.500-6.700 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800-6.000 đồng/kg; riêng IR 50404 được thu mua 5.500-5.600 đồng/kg.

Tính đến ngày 31/12, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, vụ Đông Xuân 2025-2026, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 921.000 ha, tương đương 73,8% trong tổng kế hoạch 1,266 triệu ha. Một số diện tích gieo cấy sớm đã bắt đầu cho thu hoạch.

Trên thị trường bán lẻ An Giang, giá gạo ổn định: gạo thường 11.500-12.000 đồng/kg; gạo thơm thái 20.000-22.000 đồng/kg; Jasmine 16.000-18.000 đồng/kg; gạo trắng 16.000 đồng/kg, Nàng Hoa 21.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg, Sóc thường 17.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu IR 50404 vẫn ở mức từ 7.600-7.750 đồng/kg, gạo thành phẩm IR 504 từ 9.500-9.700 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 380 từ 7.200-7.300 đồng/kg; gạo thành phẩm OM 380 dao động ở mức 8.800-9.000 đồng/kg.

Với mặt hàng phụ phẩm, giá phụ phẩm các loại dao động trong khoảng từ 7.600-11.000 đồng/kg; giá cám khô ở mức 10.000-11.000 đồng/kg.

Tương tự như Việt Nam, trên thị trường gạo châu Á, giá gạo Ấn Độ cũng đi ngang, trong khi giá gạo Thái Lan giảm xuống mức thấp nhất trong 5 tuần do nhu cầu yếu.

Cụ thể, giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ đi ngang ở mức từ 355-360 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm cũng ổn định ở mức từ 350-355 USD/tấn. Mặc dù giá đang ở gần mức cao nhất ba tháng, nhu cầu lại khá yếu. Một nhà xuất khẩu tại Kolkata cho biết người mua đang muốn giá thấp hơn, nhưng người bán không thể giảm giá do đồng rupee đang mạnh lên.

Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan đã giảm từ mức 410 USD/tấn của tuần trước xuống còn 385 USD/tấn vào tuần này. Một nhà giao dịch tại Bangkok cho biết nhu cầu đã rất yếu kể từ đầu năm. Ngoài ra, các nhà xuất khẩu đang chờ đợi thông tin về một phiên đấu giá gạo có thể được Ấn Độ mở ra.

Thị trường ngũ cốc Chicago thì diễn biến trái chiều trong phiên cuối tuần, với giá đậu tương tăng trong khi ngô và lúa mì gần như đi ngang.

Chốt phiên giao dịch ngày 9/1, giá đậu tương giao tháng 3/2026 tăng 1,25 xu Mỹ lên 10,625 USD/bushel. Ngược lại, giá lúa mì giảm 0,75 xu Mỹ xuống 5,1725 USD/bushel và giá ngô giảm 0,25 xu Mỹ còn 4,4575 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg). Tính chung cả tuần, giá đậu tương tăng 1,6%, giá lúa mì tăng 2,1% và giá ngô tăng 1,9%.

Giá đậu tương được hỗ trợ mạnh bởi nhu cầu gia tăng từ Trung Quốc. Theo các nhà giao dịch, tập đoàn nhà nước Sinograin của Trung Quốc đã mua ít nhất 10 lô hàng đậu tương Mỹ, tương đương 600.000 tấn, với dự kiến giao hàng trong tháng 4 và 5.

Trước đó, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng xác nhận các đơn hàng bán 198.000 tấn đậu tương cho khách hàng giấu tên và 132.000 tấn cho Trung Quốc.

Ngược lại, giá ngô và lúa mỳ gần như đi ngang. Các nhà giao dịch đang điều chỉnh các lệnh giao dịch trước thềm báo cáo quan trọng của Bộ Nông nghiệp Mỹ về diện tích gieo trồng lúa mì mùa Đông, sản lượng thu hoạch ngô và đậu tương năm 2025, cùng dữ liệu tồn kho ngũ cốc tính đến ngày 1/12. Báo cáo này sẽ được công bố vào ngày 12/1 (giờ địa phương). Các nhà giao dịch sẽ chờ đợi số liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ để đưa ra động thái tiếp theo trên thị trường.

Thị trường càphê thế giới tuần qua chứng kiến một đợt điều chỉnh giảm giá mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước, do sự kết hợp của các yếu tố cơ bản về thời tiết và áp lực từ thị trường tài chính.

Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê đồng loạt giảm sâu. Tại London, giá càphê Robusta giao tháng 1/2026 giảm 32 USD xuống còn 4.075 USD/tấn. Tại New York, giá cà phê Arabica giao tháng 3/2026 mất 14,7 xu xuống còn 357,65 xu/lb (1 lb = 0,4535 kg). Nguyên nhân chính được cho là do thời tiết thuận lợi tại Brazil và Việt Nam đã cải thiện triển vọng nguồn cung.

Bên cạnh đó, việc đồng USD tăng giá mạnh lên mức cao nhất 4 tuần cũng gây áp lực lên thị trường hàng hóa. Các chuyên gia cũng lưu ý rằng đồng USD mạnh đã kích thích nông dân Brazil bán hàng mạnh tay hơn.

Tại thị trường trong nước, giá càphê tại khu vực Tây Nguyên ngày 10/1 cũng "bốc hơi" thêm 700 đồng/kg. Áp lực chốt lời cùng diễn biến tiêu cực từ sàn London đã khiến thị trường chìm trong sắc đỏ.

Tính đến sáng 10/1, giá càphê tại Đắk Lắk và Gia Lai ở mức 97.100-97.300 đồng/kg và Lâm Đồng là 96.800 đồng/kg. Đà giảm liên tục những ngày qua đã khiến nhiều hộ nông dân có tâm lý hoang mang và bắt đầu bán ra một lượng hàng ký gửi để bảo toàn lợi nhuận./.

Theo Vietnam+

Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo