Việt Nam không phải là nước thuộc nhóm có nợ công cao
Hiện nay, Quốc hội cho phép trần nợ công của Việt Nam không quá 65% GDP. Quốc hội khóa XV quyết nghị “hằng năm trần nợ công không quá 60% GDP, ngưỡng cảnh báo là 55% GDP; trần nợ Chính phủ không quá 50% GDP; ngưỡng cảnh báo là 45% GDP; trần nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP; ngưỡng cảnh báo là 45% GDP…[1]”. Nhìn lại đầu nhiệm kỳ 2016 – 2020, nhận thấy vào năm 2016 nợ công của Việt Nam đầu nhiệm kỳ 2016-2020, thu chi ngân sách, nợ công trong tình thế "căng như dây đàn". Sau 5 năm ứng phó linh hoạt, tình hình đã thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tỷ lệ nợ công đã giảm dần qua các năm. Nếu như năm 2016, tỷ lệ nợ công của Việt Nam chiếm 63,7% GDP thì đến cuối năm 2020, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 55,3% GDP. “Cụ thể, đến hết ngày 31/12/2020, dư nợ công bằng khoảng 55,3% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 49,1% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 47,3% GDP, thấp hơn trần quy định tại Nghị quyết số 25 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 (tương ứng là 65% GDP, 54% GDP và 50% GDP)[2]”. Chính phủ của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã và đang đặt mục tiêu cố gắng phấn đấu để nợ công giảm xuống thấp hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Theo số liệu mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới (World economic forum), có 20 nước có tỷ lệ nợ công cao nhất thế giới hiện nay, bao gồm: Nhật Bản, Hy Lạp, Italia, Jamaica, Li Băng, Eritrea, Bồ Đào Nha, Cáp Ve, Bhutan, Ireland, Grenada, Antigua & Barbuda, Bỉ, Cộng hòa Síp, Mỹ, Barbados, Cộng hòa Gambia, Tây Ban Nha, Sigapore và Pháp (Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới[3]).
Nhìn trên danh sách này, có thể thấy Nhật Bản là nước có tỷ lệ nợ công so với GDP cao nhất với 246,14%. Tiếp theo là Hy Lạp 172,73% GDP, Italy 133,76% GDP, Jamaica 132,82… Ba nước cuối cùng trong bảng sắp hạng này là Tây Ban Nha với 99,44% GDP, Singapore với 97,77% GDP và Pháp là 97,01% GDP. Và, tất nhiên Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia có tỉ lệ nợ công lớn trên thế giới này của Diễn đàn Kinh tế thế giới.
Tất nhiên, nợ công không phải là chỉ số duy nhất để đánh giá “sức khỏe” của nền kinh tế. Có những nước nợ công cao đối mặt với sụp đổ nền kinh tế, vỡ nợ như Hy Lạp. Tuy nhiên, những nước có nợ công cao như Nhật Bản, Mỹ… vẫn không thể khẳng định rằng họ yếu kém. Đơn giản bởi các nước có nợ công cao song tiền nợ này được đầu tư đúng trọng tâm, trọng điểm, hạn chế tối đa thất thoát, tham nhũng và mang lại hiệu quả. Chúng ta không thể phủ nhận rằng ở Việt Nam có những công trình thất thoát, lãng phí, song đa phần nợ công của Việt Nam đã được vay để đầu tư cho các công trình lớn, cơ sở hạn tầng của đất nước, đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Có thể thấy mặc dù trần nợ công ở Việt Nam mà Quốc hội cho phép là không được vượt quá 65% GDP (hiện nay là hàng năm không vượt quá 60% GDP), song tỷ lệ này hiện thấp hơn mức đó rất nhiều. Nhìn trên bảng thống kê nêu trên của Diễn đàn kinh tế thế giới nhận thấy xét trên tỉ lệ nợ công so với GDP thì Việt Nam không phải là nước có nợ công lớn “nhất thế giới” như các thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội.
Dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19 nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tốt đà tăng trưởng. (Nguồn: VOV)Về cái gọi là “kinh tế Việt Nam hầu như không phát triển nên phải đi ăn vay”
Không thể nói nền kinh tế Việt Nam không phát triển, bởi trong những năm qua, Việt Nam vẫn là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với khu vực và thế giới. Nếu như giai đoạn 1986 - 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bình quân 4,4%/năm thì nó đã được tăng lên gấp đôi với 8,2%/năm giai đoạn 1991-1995; 7,6%/năm giai đoạn 1996 - 2000; giai đoạn 2001 - 2005 bình quân 7,34%; giai đoạn 2006 - 2010, là khoảng 7%/năm. Trong giai đoạn 2011 - 2015, mặc dù chịu nhiều khó khăn, thách thức nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt 5,9%/năm. Giai đoạn 2016 - 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của đại dịch Covid-19, song tốc độ tăng trưởng kinh tế ViệtNam vẫn đạt 5,9% và nằm trong số ít các nước tăng trưởng cao ở Châu Á nói riêng và thế giới nói chung.
Tăng trưởng GDP của các nền kinh tế châu Á trong năm 2020. (Ảnh: CNBC. Nguồn: VietNamnet)Trước đổi mới đất nước, lạm phát ở Việt Nam đã lên tới 3 con số. Sau đó, lạm phát được đưa về 12,7% năm 1995 và 4,5% năm 1996 và luôn giữ được mức dưới 2 con số suốt những năm qua. Thu nhập bình quân đầu người năm từ 91 USD năm 1980 lên 289 USD vào năm 1995 và năm 2016 là trên 2.200 USD. Năm 2020, theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP của Việt Nam năm 2020 đạt trên 340 tỷ USD, vượt qua Singapore (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD) để chiếm vị trí thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á. GDP bình quân đầu người đạt 3.500 USD, xếp thứ 6 trong khu vực ASEAN và chính thức vượt thu nhập bình quân đầu người của Philipinnes. Năm 2020, kim ngạch ngoại thương đạt xấp xỉ 545 tỷ USD. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1987 đến nay đạt gần 400 tỷ USD. Từ một đất nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới… Vừa qua, khi Tổng cục Thống kê rà soát, đánh giá lại GDP, chỉ số tăng trưởng GDP thực tế sau đánh giá lại cao hơn con số đã được đánh giá trước đây.
Việt Nam là một đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì vậy kết cấu hạ tầng đô thị là vấn đề lớn đặt ra cần giải quyết. Đa số các công trình lớn về giao thông thường được đầu tư với số vốn lớn. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra 3 đột phá chiến lược, một trong những đột phá đó là kết cấu hạ tầng đồng bộ. Như vậy có thể thấy trong 5 năm tới, sẽ có rất nhiều công trình lớn ở Việt Nam được đầu tư xây dựng, vì vậy cần một nguồn vốn khổng lồ. Với nguồn lực hiện có, đương nhiên Việt Nam chưa thể đáp ứng, vì vậy phải chấp nhận vay nợ của nước ngoài để đầu tư. Các công trình hạ tầng hiện đại sẽ giúp cho kinh tế Việt Nam phát triển.
Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội với nhiều điểm mới, mang tính đột phá nhằm đẩy mạnh thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, tạo động lực để phát triển bền vững đất nước. (Nguồn: Thời báo Tài chính)Có phải Việt Nam đói nghèo nên bỏ rơi người dân trong đại dịch Covid-19?
Dịch Covid-19 lần thứ 4 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là đời sống của những người lao động nghèo. Vin vào cớ này, các thế lực chống đối đã không ngớt rêu rao là chính quyền Việt Nam không quan tâm đến dân nghèo, rằng chính quyền Việt Nam, chính quyền TPHCM bỏ rơi người nghèo.
Ở Việt Nam, với mục tiêu phấn đấu để không ai bị bỏ lại phía sau trong đại dịch, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 với gói hỗ trợ chưa từng có lên tới 62 nghìn tỷ đồng để giúp đỡ những người nghèo trong xã hội vượt qua đại dịch. Với làn sóng dịch lần thứ 4 với biến chủng Delta lây lan nhanh trên diện rộng và phức tạp như lần này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ngay lập tức ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể chăm lo cho người dân. Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Đảng đoàn Quốc hội ban hành Nghị quyết 68 và Quyết định 23 hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Gói hỗ trợ lần 2 của Chính phủ trị giá 26 nghìn tỷ đồng đã được triển khai nhanh chóng. Các thủ tục triển khai chính sách được thực hiện thông thoáng, giảm 2/3 thủ tục, rút ngắn 2/3 thời gian so với Nghị quyết 42. Có những chính sách không cần người lao động và người sử dụng lao động cung cấp hồ sơ mà dựa vào cơ sở dữ liệu đã có để hỗ trợ. Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã quyết nghị một việc hệ trọng là tán thành việc giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính được quyết định biện pháp đặc biệt để chống dịch. Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội đã cho phép chuyển nguồn 1.237 tỷ đồng kinh phí chi sự nghiệp y tế còn lại năm 2020 của Bộ Y tế để mua vaccine phòng dịch Covid-19 và quyết toán vào chi ngân sách Nhà nước năm 2021...
Đối với gói cứu trợ lần 2, TPHCM nhận được 886 tỷ đồng và đã và đang nhanh chóng đưa tới tận tay người dân bằng những thủ tục đơn giản nhất, nhanh gọn nhất. Ngày 5/8/2021, UBND TPHCM đã phê duyệt gói hỗ trợ đợt hai, nhằm hỗ trợ cho lao động tự do; hộ nghèo, hộ cận nghèo và người lao động nghèo gặp khó khăn do dịch Covid-19 với kinh phí hơn 900 tỉ đồng. Ngoài ra, Thành phố còn triển khai rất nhiều các chương trình khác nhau của các đoàn thể, vận động sự ủng hộ của các doanh nghiệp, nhà hảo tâm để chăm lo cho người dân,…
Chúng ta không phủ nhận về lúng túng ban đầu khi đại dịch bùng phát trên diện rộng, song Nhà nước Việt Nam, cả hệ thống chính trị của TPHCM đã làm hết sức mình để chăm lo cho mọi người, nhất là những người lao động, người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội. Vượt qua những lúng túng, khó khăn lúc ban đầu, cùng với phòng, chống dịch, việc chăm lo cho người dân, nhất là người nghèo đã ngày càng thông suốt, hiệu quả.
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, thế nhưng những thành tựu về phát triển kinh tế ở Việt Nam những năm qua là không thể phủ nhận. Cũng vậy, dù đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đang gây thiệt hại vô cùng lớn về mọi mặt trên cả nước nói chung, nhất là ở TPHCM, thế nhưng không phải vì lý do ấy mà Chính phủ hay Thành phố bỏ rơi người dân trong hoạn nạn như các luận điệu xuyên tạc.
Phúc Vũ
___________________
[1] https://tuoitre.vn/quoc-hoi-phe-duyet-hon-3-trieu-ti-dong-vay-no-trong-5-nam-toi-20210728113032534.htm
[2] https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/5-nam-2016-2020-keo-dinh-no-cong-xuong-muc-an-toan-721946.html
[3] Trang website của Diễn đàn kinh tế thế giới, địa chỉ: https://www.weforum.org/agenda/2015/07/the-20-countries-with-the-greatest-public-debt/, truy cập ngày 05-8-2021).