Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước trụ sở UBND TPHCM. ẢNH: TTXVNNăm nay là tròn nửa thế kỷ Thành phố mang tên Hồ Chí Minh - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, “người chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, vị đại anh hùng của dân chúng Việt Nam”.
Năm này cũng là chẵn 80 năm tờ báo Cứu quốc (Cơ quan tuyên truyền tranh đấu của Tổng bộ Việt Minh) số 329 ra ngày Thứ ba, 27-8-1946 đăng trên trang nhất bài đề xuất lên Quốc hội và Chính phủ về việc “Thành phố Sài Gòn từ nay sẽ đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh”.
Năm ấy là tròn một năm kỷ niệm sự kiện lịch sử Sài Gòn - Gia Định nổi dậy giành chính quyền theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tự ta giải phóng cho ta” (25-8-1945 - 25-8-1946). Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp (1911-2006) - một “kẻ sĩ Gia Định” yêu nước và lựa chọn dấn thân, tham gia kháng chiến - ông ra Bắc (từ đầu năm 1946) để báo cáo trung ương về tình hình Nam bộ và được giữ lại Hà Nội công tác; trong buổi gặp mặt cán bộ và đồng bào Nam bộ đang hoạt động ở thủ đô, ông Nghiệp đã trình bày tổng kết tình hình Nam bộ kháng chiến và tình cảm trân quý đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ông là người đầu tiên đề xuất ý tưởng đổi tên Sài Gòn là Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, một bản kiến nghị (với 57 chữ ký, đứng đầu là bác sĩ Trần Hữu Nghiệp) gửi đến Quốc hội, Chính phủ nêu rõ nguyện vọng để Sài Gòn mang tên lãnh tụ kính yêu.
Đông đảo du khách chụp ảnh lưu niệm với Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước trụ sở UBND TPHCM, chiều 29-4 ẢNH: DŨNG PHƯƠNGThế giới lúc ấy đã có nhiều thành phố mang tên nhà lãnh đạo hay người nổi tiếng, nhưng ở Việt Nam, việc đổi đặt tên thành phố mang tên Hồ Chí Minh là chưa có tiền lệ, nhất là khi đất nước vừa có tên trên bản đồ, lại đang trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chiều ngày 2-9-1945, nhân dân Sài Gòn - Gia Định mừng Độc lập, đón nghe lời Hồ Chủ tịch từ thủ đô Hà Nội tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã trở thành một nước tự do, độc lập”.
Ba tuần sau, Xứ ủy Nam bộ tại Hội nghị Cây Mai (ngày 23-9-1945) đã phát động Sài Gòn - Gia Định cùng toàn Nam bộ đứng lên chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, theo tinh thần oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến trong thư gửi đồng bào Nam bộ “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”.
Từ đó mở đầu 30 năm (1945-1975) kháng chiến trường kỳ. Đến mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi vẻ vang, non sông thu về một mối. Những “chiến công oanh liệt của các chiến sĩ đã chết và còn sống hiện đang chiến đấu” của quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã được hiện thực hóa thành “ngày vui đại thắng”.
Công đức của Hồ Chủ tịch được nhiều giới, nhiều người tự đặt, tự gọi tên “Thành phố Hồ Chí Minh” suốt 30 năm. Tâm nguyện của Người về hòa bình, thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà được hoàn thành.
Tròn 30 năm mới có cuộc tổng tuyển cử cả nước lần thứ 2 (ngày 25-4-1976) để Quốc hội thống nhất có kỳ họp đầu tiên dành ngày 2-7-1976 thảo luận và ra Nghị quyết lịch sử. Nghị quyết nêu rõ:
- Xét rằng nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người.
- Xét rằng, trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn - Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Nguyện vọng của “Toàn thể đồng bào Nam bộ đủ các đảng phái, giai cấp họp mặt tại Hà Nội” 30 năm trước “xin Quốc hội và Chính phủ trung ương” đổi ngay tên thành phố Sài Gòn là Thành phố Hồ Chí Minh; tượng trưng cho “sự chiến đấu, hy sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc” đã hiện thực hóa thành “Quyết nghị: Chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh”.
Thế là từ một sáng kiến cá nhân nhanh chóng chuyển thành tâm nguyện chung của nhiều trí thức và nhân sĩ yêu nước; từ nhận thức mới về vị trí của Sài Gòn trong kháng chiến vì độc lập tự do, thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng cho tinh thần chiến đấu, hy sinh và ý chí gắn bó với Tổ quốc của nhân dân Nam bộ.
Từ năm thứ 50 này, Thành phố Hồ Chí Minh có không gian phát triển mới rộng mở, có thêm nhiều thế hệ tiếp bước, nhất là tuổi trẻ, vẹn nguyên niềm tự hào “Từ thành phố này”, người thanh niên Văn Ba ra đi tìm đường cứu nước, chuẩn bị khởi nghiệp cho cả dân tộc phát triển đến giàu mạnh, phồn vinh.
Mỗi công dân thành phố mang tên Bác, dù lao động, học tập, cống hiến ở đâu và thuộc lĩnh vực nào, hãy mang trong lòng niềm tin son sắt, như Nguyễn Tất Thành nói chuyện với bạn năm 1911 khi ra đi tìm đường cứu nước, “sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.