Thứ Bảy, ngày 1 tháng 8 năm 2026

Nghị quyết 19-NQ/TW: Khát vọng hùng cường và bản lĩnh đổi mới

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Có thể khẳng định định hướng tầm nhìn đến năm 2130 trong Nghị quyết số 19 được xây dựng với lộ trình khoa học, bài bản, thể hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia XHCN phát triển trình độ cao.

Ngay sau khi Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV công bố định hướng chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao vào năm 2130, bên cạnh sự đồng thuận cao, đã xuất hiện một số luận điểm hoài nghi cho rằng đây là mục tiêu "phi thực tế" hay "mang tính tuyên truyền."

Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào các quyết sách cụ thể và thực tiễn đang diễn ra, có thể khẳng định đây là một lộ trình khoa học, có cơ sở pháp lý và động lực thực thi mạnh mẽ.

Bốc xếp hàng hóa xuất khẩu ở cảng Container Quốc tế Hải Phòng. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN) Bốc xếp hàng hóa xuất khẩu ở cảng Container Quốc tế Hải Phòng. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc, mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi những quyết sách mang tính bước ngoặt. Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã chính thức được ban hành, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tư duy và hành động của toàn Đảng, toàn dân. Đây không chỉ là một nghị quyết đơn thuần mà còn là "kim chỉ nam" cho khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phát triển ở trình độ cao.

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, xác định mục tiêu "đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao", đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của xã hội.

Đây là lần đầu tiên tầm nhìn phát triển quốc gia được xác lập ở một mốc thời gian dài hạn như vậy, tạo nên nhiều cuộc trao đổi trên các diễn đàn và phương tiện truyền thông.

Không ít ý kiến băn khoăn về tính khả thi của mốc thời gian hơn một thế kỷ kể từ khi thành lập Đảng, trong khi một số bình luận trên mạng xã hội đặt câu hỏi về nội hàm của khái niệm "quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao." Có quan điểm cho rằng mục tiêu là "phi thực tế"; cho rằng mốc thời gian năm 2130 quá xa, không thể kiểm chứng, chỉ mang tính khẩu hiệu; cho rằng đây chỉ là mục tiêu mang tính chất tuyên truyền, là thông điệp truyền thông hơn là chiến lược có cơ sở. Thậm chí có quan điểm cho rằng khái niệm "phát triển trình độ cao" là khái niệm mơ hồ, không có tiêu chí định lượng.

Những trao đổi đó phản ánh sự quan tâm của công chúng đối với định hướng phát triển đất nước. Đồng thời, chính điều đó cũng đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận đầy đủ nội dung của Nghị quyết số 19-NQ/TW và hệ thống văn kiện liên quan để hiểu đúng mục tiêu, cơ sở và lộ trình mà văn kiện đã xác định.

 

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã khẳng định đây là định hướng tầm nhìn 100 năm lần thứ hai của Đảng dành cho giai đoạn từ năm 2030 đến năm 2130. Trong bối cảnh mốc thời gian 100 năm thành lập Đảng đang rất gần (2030), toàn hệ thống chính trị đang khẩn trương hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược.

Sau gần 100 năm Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế của đất nước lên tầm cao mới.

Từ thực tiễn phong phú đó, chúng ta đã đúc kết được cơ sở lý luận sáng rõ và nền tảng thực tiễn vững chắc, tạo bệ phóng vững chãi để đưa đất nước vươn mình tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Tầm nhìn này không chỉ hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 mà còn xác lập khát vọng trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao vào năm 2130.

Trong quản trị quốc gia hiện đại, tầm nhìn dài hạn không phải là điều bất thường, càng không phải là biểu hiện của sự duy ý chí. Trái lại, đó là điều kiện để bảo đảm tính liên tục của chiến lược phát triển, tạo sự thống nhất trong hoạch định thể chế, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện qua nhiều nhiệm kỳ. Một quốc gia không xác lập được đích đến dài hạn sẽ rất dễ rơi vào tình trạng phát triển theo nhiệm kỳ, chạy theo các mục tiêu ngắn hạn, thiếu tính kế thừa và khó tạo ra những bước đột phá có ý nghĩa lịch sử.

Từ góc độ hoạch định chiến lược, việc xác lập tầm nhìn dài hạn là cách nhiều quốc gia sử dụng để định hướng phát triển xuyên suốt, trong khi các mục tiêu và chính sách cụ thể vẫn được triển khai theo từng giai đoạn và có thể điều chỉnh trên cơ sở thực tiễn. Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, hầu hết các quốc gia thành công đều lựa chọn cách tiếp cận này.

Nói cách khác, điều cần được xem xét không phải là khoảng cách thời gian từ nay đến năm 2130 dài hay ngắn, mà là mục tiêu đó được xây dựng trên cơ sở nào, có lộ trình ra sao và có những điều kiện gì để hiện thực hóa.

Có thể khẳng định định hướng tầm nhìn đến năm 2130 trong Nghị quyết số 19-NQ/TW được xây dựng với một lộ trình khoa học và bài bản, thể hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao qua các bước đi vững chắc trong từng giai đoạn chiến lược.

Lộ trình này xác định rõ các cột mốc: đến năm 2030 hoàn thành nền tảng mô hình phát triển mới; đến năm 2035 cơ bản chuyển đổi sang mô hình tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Để thực hiện mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mang tính đồng bộ, bao quát từ thể chế, kinh tế đến quốc phòng, an ninh.

Trong số đó, nhóm giải pháp về kinh tế và mô hình tăng trưởng mới được coi là động lực chính, tập trung vào việc chuyển đổi dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Mô hình này không chỉ chú trọng các chỉ số tăng trưởng mà còn gắn kết chặt chẽ với các giá trị văn hóa, xã hội và môi trường, kiên trì nguyên tắc lấy con người làm chủ thể trung tâm, là mục tiêu và động lực mạnh mẽ nhất của sự phát triển.

Văn hóa được xác lập là nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh; xã hội phát triển theo hướng kỷ cương, văn minh, hài hòa; còn môi trường được coi là trụ cột bền vững với mục tiêu hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0". Sự kết hợp hài hòa này đảm bảo cho quốc gia không chỉ phát triển về trình độ kỹ thuật mà còn đạt tới sự phồn vinh, hạnh phúc và bền vững lâu dài.

Trong phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải "đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển," phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng thời tận dụng thành tựu của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo động lực phát triển mới. Những định hướng này cho thấy trọng tâm của mô hình phát triển được đặt vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận các quyết sách lần này thực sự là một bước chuyển trong tư duy phát triển, chứ không đơn thuần là điều chỉnh chiến lược.

Trung ương Đảng đã xác định rất rõ yêu cầu chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người.

Đáng chú ý, định hướng phát triển đến năm 2130 được đặt trong một lộ trình nhiều giai đoạn. Bên cạnh tầm nhìn dài hạn, Nghị quyết đồng thời xác định các mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt, gắn với việc hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia.

Để hiện thực hóa Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển, Bộ Chính trị đã ban hành ngay Chương trình số 33-Ctr/TW thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam để cụ thể hóa các bước đi.

Chương trình hành động của Bộ Chính trị tiếp tục cụ thể hóa các định hướng đó thông qua cơ chế tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm và theo dõi, đánh giá. Việc ban hành một chương trình hành động cụ thể cho thấy Đảng không chỉ dừng lại ở việc đưa ra mục tiêu mà đã chuẩn bị sẵn sàng các bước triển khai chặt chẽ, có kiểm chứng qua từng giai đoạn.

Ở khía cạnh đó, giá trị của Nghị quyết số 19-NQ/TW không chỉ được đánh giá qua việc xác lập một tầm nhìn phát triển mới, mà còn ở khả năng tạo động lực cho quá trình đổi mới tư duy, đổi mới phương thức quản trị và tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển trong những thập niên tới.

Đó cũng là cơ sở để các chương trình hành động, kế hoạch phát triển và các chính sách cụ thể tiếp tục được xây dựng, điều chỉnh và triển khai trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng mà Nghị quyết đã xác lập.

Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy không có bước nhảy vọt nào được tạo nên nếu thiếu một tầm nhìn đủ dài và quyết tâm đủ lớn. Điều đáng tranh luận không phải là Việt Nam có nên đặt mục tiêu đến năm 2130 hay không, mà là làm thế nào để hiện thực hóa mục tiêu đó bằng những cải cách cụ thể trong từng giai đoạn.

Chính ở phương diện này, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đưa ra lời giải bằng hệ thống định hướng và chương trình hành động rõ ràng, qua đó bác bỏ những nhận định cho rằng mục tiêu năm 2130 chỉ là một khẩu hiệu hay tuyên truyền./.


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo