Luôn trăn trở, tận tụy vì sự phát triển của giáo dục nước nhà
Tháng 4/1993, từ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), tôi được bổ nhiệm làm Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế của Bộ GD-ĐT. Trong lãnh đạo bộ lúc đó, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT là GS Trần Hồng Quân, còn GS Phạm Minh Hạc là Thứ trưởng Thứ nhất được phân công phụ trách Vụ Hợp tác quốc tế và một số đơn vị khác.
Vì vậy, tôi có điều kiện được gần gũi, giúp việc trực tiếp cho GS Phạm Minh Hạc trong các hoạt động hợp tác quốc tế về GD-ĐT. Sau này, trong những năm 2001-2006, GS Phạm Minh Hạc là Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, tôi lại có điều kiện làm việc cùng ông với tư cách Phó Chủ tịch hội đồng.
Cảm nhận và ấn tượng của tôi về GS Phạm Minh Hạc là một nhà khoa học sư phạm uyên thâm, chuyên nghiệp, chuẩn mực, được đào tạo và tự đào tạo bài bản, không ngừng học hỏi, nghiên cứu và đóng góp cho lý luận dạy và học, chỉ đạo thực tiễn, luôn trăn trở, tận tụy vì sự phát triển của khoa học, giáo dục nước nhà để đóng góp xứng đáng cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Tôi học được nhiều từ GS Phạm Minh Hạc, một người con gốc Hà thành, từ nội dung chuyên môn sâu sắc cho đến những câu chuyện thâm thúy khi giao tiếp, từ cách ăn mặc, tiếp khách cho đến việc sử dụng thành thạo và phù hợp các ngoại ngữ khác nhau, như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, mà đầu tiên là phải nói và viết thật chuẩn tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt. Tôi cũng rất khâm phục sức làm việc và kết quả nghiên cứu khoa học đồ sộ của GS Phạm Minh Hạc.
Rất nhiều kỷ niệm và bài học thú vị mà tôi học được từ GS Phạm Minh Hạc và còn nhớ mãi cho đến hôm nay. GS Phạm Minh Hạc có tác phong làm việc, giao tiếp rất chuẩn mực, đúng giờ, giữ lời hứa và rất chu đáo.
Khi nhận được thư, email, sách, báo tặng..., bao giờ ông cũng trả lời chu đáo, thường là trực tiếp viết tay vào những tờ giấy to nhỏ khác nhau có tít ở đầu trang. Khi GS Phạm Minh Hạc chủ trì hoặc tham dự hội nghị, hội thảo, nếu ai nói ý hay ông đều động viên, khuyến khích kịp thời. Đặc biệt là đến khi sơ kết, tổng kết hội nghị, hội thảo, ông không để lọt ý nào.
Tôi muốn nói lời cảm ơn GS Phạm Minh Hạc, người đã lưu ý tôi về tầm quan trọng của những nghị quyết của Trung ương, di sản UNESCO và kinh nghiệm giáo dục quốc tế.
Tôi cho rằng, trong kỷ nguyên AI hiện nay, hội nhập quốc tế về giáo dục một cách nhanh chóng, căn bản và toàn diện, từ tư duy đến hành động, nhưng vẫn gìn giữ được cốt cách Việt, theo đường lối của Đảng và Nhà nước ta, là giải pháp quan trọng nhất hiện nay để đổi mới căn bản, toàn diện và phát triển nền giáo dục Việt Nam theo hướng hiện đại nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc.
“Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam”
GS Phạm Minh Hạc rất quan tâm nghiên cứu triết lý giáo dục Việt Nam. Dựa trên những kết quả nền tảng của giáo dục Việt Nam, UNESCO và quốc tế, GS Phạm Minh Hạc đã có những tiếp cận và đề xuất mới.
Ông đề xuất một triết lý mang tên “giá trị bản thân” và đã viết cuốn sách “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam”, dày 300 trang. “Giá trị bản thân” chính là mục đích, mục tiêu giáo dục phải đi tới từng người học, ở những lứa tuổi, trình độ, hoàn cảnh sinh sống khác nhau, dựa trên cơ sở tư tưởng là “triết lý giáo dục Hồ Chí Minh”.
Ông là một trong những người đầu tiên đã lôi cuốn tôi vào đọc và tìm hiểu những khuyến nghị và định hướng quan trọng của UNESCO cho khoa học và giáo dục toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Muốn xây dựng triết lý và chiến lược giáo dục Việt Nam thì trước hết phải nắm chắc các nguyên lý của UNESCO và bài học của các nước thành công về giáo dục để vận dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam.
Học tập GS Phạm Minh Hạc, tôi tìm hiểu sâu hơn về triết lý giáo dục UNESCO (ra đời năm 1996) và đã phát hiện ra rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu triết lý giáo dục tương tự cho Việt Nam từ năm 1949.
Triết lý “bốn trụ cột” cho giáo dục toàn thế giới trong thế kỷ XXI, do UNESCO đưa ra năm 1996 trong báo cáo Delors, tạm dịch là: “Học để có kiến thức, Học để ra làm việc, Học để biết chung sống với nhau và Học để làm người”. Nhiều nước trên thế giới cũng đã lấy triết lý giáo dục này của UNESCO làm nền tảng rồi bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. GS Phạm Minh Hạc cũng đã đi theo hướng đó với cách tiếp cận mới của mình.
Chúng ta thấy về cơ bản tư tưởng và chân lý này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ra ngay từ tháng 9/1949 trên trang đầu của cuốn Sổ vàng khi Người đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (tiền thân của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay): “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Tôi phát hiện ra điều này tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội.
Ngày 11/7/2014, tôi đã gửi thư đến Tổng Giám đốc UNESCO tại Paris, giới thiệu “triết lý giáo dục Hồ Chí Minh” (năm 1949) và của UNESCO (năm 1996) khá giống nhau... Triết lý, lời căn dặn và mong mỏi của Bác Hồ còn sâu rộng, bao hàm cả những phẩm chất đạo đức rất cần thiết và quan trọng đối với người cán bộ, đối với một con người trong tương lai, đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Sang đầu thế kỷ XXI, bây giờ và cả trong tương lai, chúng ta càng thấm lời dạy của Bác Hồ.