Thứ Ba, ngày 3 tháng 8 năm 2021

Đồng chí Hồ Tùng Mậu với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

(Thanhuytphcm.vn)- Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Khi xuất dương sang Thái Lan hoạt động, Đồng chí đổi tên là Hồ Tùng Mậu và trở thành tên gọi chính thức trong quá trình hoạt động cách mạng.

Chân dung đồng chí Hồ Tùng Mậu. (Nguồn: Ảnh tư liệu) Chân dung đồng chí Hồ Tùng Mậu. (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Hồ Tùng Mậu sinh ra trong một gia đình “dòng giống xứ Nghệ, thế phiệt Hoan Châu”, một quê hương sản sinh ra rất nhiều những anh hùng hào kiệt, sẵn sàng đứng lên vì chính nghĩa, hy sinh xương máu của mình vì Tổ quốc, đồng bào.

Cha của Đồng chí là cụ Hồ Bá Kiện, con trai đầu của Án sát Hồ Bá Ôn. Cụ Hồ Bá Kiện là một chí sĩ yêu nước, hoạt động trong phong trào Văn Thân chống Pháp (khởi phát năm 1864). Năm 1907, cụ Hồ Bá Kiện bị bắt khi đang hoạt động ở Sơn Tây, sau đó bị đày đi Lao Bảo và cuối cùng bị thực dân Pháp sát hại.

Năm 20 tuổi, chứng kiến sự áp bức của thực dân Pháp với cha mình và đồng bào, Hồ Tùng Mậu đã rời xa gia đình đến huyện Thanh Chương và Anh Sơn dạy học với mong muốn tìm được những người có cùng chí hướng, cứu đồng bào, cứu lấy Tổ quốc.

Năm 1919, Đồng chí lấy bí danh là Hồ Tùng Mậu, cùng với Đồng chí Lê Hồng Sơn, Nguyễn Thị Tích, Ngô Chính Học và Đặng Quỳnh Anh đã bí mật sang Lào, sau đó đến Xiêm (Thái Lan). Sau 3 tháng ở Trại Cày ở Bản Đông, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn được cụ Đặng Thúc Hứa giúp đỡ vượt biên sang Quảng Châu - Trung Quốc. Tại đây, Hồ Tùng Mậu thuê nhà của chí sĩ Hồ Học Lãm để học tiếng Trung, tiếng Anh, rồi đi học tại Trường trung học An sinh (Hàng Châu), Trường Điện tín của Công ty xe lửa Hán - Việt (Quảng Châu).

Năm 1923, Hồ Tùng Mậu cùng các Đồng chí Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn... thành lập nhóm “Tâm Tâm xã”, đây là tổ chức thanh niên có tư tưởng phục quốc, hoạt động cách mạng với mục đích giành lại độc lập cho Việt Nam.

Tháng 3 năm 1924, Đồng chí được cụ Phan Bội Châu giao cho trọng trách mang tài liệu về nước tuyên truyền và vận động thanh niên ra nước ngoài huấn luyện để quay trở về cứu nước. Tuy nhiên, tháng 7 cùng năm, sau khi hay tin Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Martial Henri Merlin, Đồng chí đã phải trở lại Quảng Châu.

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), Người gặp mặt và nói chuyện với những thanh niên Việt Nam yêu nước trong nhóm “Tâm Tâm xã”. Trên cơ sở đó, năm 1925, Nguyễn Ái Quốc kết nạp một số thanh niên này vào “Cộng sản Đoàn”, trong số đó có Hồ Tùng Mậu. Được kết nạp vào “Cộng sản Đoàn” Đồng chí đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển Hội.

Tháng 6 năm 1925, dựa trên cơ sở Cộng sản Đoàn, Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” sau đó mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên ở trong nước sang. “Ban Huấn luyện Chính trị đặc biệt” đặt ở ngôi nhà số 13 đường Văn Minh (Quảng Châu), Hồ Tùng Mậu là một trong số những giảng viên phụ giảng của Nguyễn Ái Quốc.

Cuối năm 1925, Hồ Tùng Mậu về Hải Phòng lập ra “Huệ quần thư quán” đây là nơi ở đồng thời là nơi liên lạc giữa Tổng bộ của Hội với các cơ sở trong nước để chọn người sang Quảng Châu huấn luyện.

Tháng 3 năm 1926, do yêu cầu của cách mạng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu Hồ Tùng Mậu vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đồng chí đã làm việc tại Chiêu đãi sở ở Quảng Đông, tạo đầu mối liên lạc với những người cộng sản các nước đang hoạt động ở đây.

Từ năm 1927 đến năm 1929, Hồ Tùng Mậu đã ba lần bị bắt giam và chịu đủ mọi cực hình tra tấn của nhà tù đế quốc, trải qua bao nhiêu khổ ải, đến năm 1929 Đồng chí cũng được trả tự do.

Cuối năm 1929, Đồng chí đến Hương Cảng. Tại đây, Hồ Tùng Mậu trở thành thành viên Chi bộ Hải ngoại của An Nam Cộng sản Đảng. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Nghệ An, thực dân Pháp đã tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt đối với Hồ Tùng Mậu, phiên tòa kết án tử hình Đồng chí với tội danh xúi giục đưa người ra nước ngoài, vận động lập đảng, mưu đồ làm phản.

Đầu năm 1930, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn tích cực chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập tại Cửư Long, Hương Cảng (Trung Quốc) vào ngày 03 tháng 02 năm 1930.

Ngày 06 tháng 6 năm 1931, hay tin Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt giữ tại Hương Cảng, Đồng chí Hồ Tùng Mậu cùng Đồng chí Trương Vân Lĩnh đã liên lạc với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ để nhờ can thiệp. Cuối cùng thực dân Anh đã trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.

Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 6 năm 1931, Đồng chí bị thực dân Anh bắt giam vì lý do hoạt động chống nhà cầm quyền, nhưng vì không có đủ chứng cứ buộc tội nên đã trục xuất Đồng chí khỏi Hương Cảng và mật báo với mật thám Pháp. Tại Thượng Hải, Đồng chí bị mật thám Pháp bắt giữ, sau đó đưa về Việt Nam xét xử.

Ngày 06 tháng 12 năm 1931, Đồng chí bị thực dân Pháp tuyên án tử hình tại phiên tòa ở Nghệ An, sau đó giảm án xuống thành chung thân khổ sai và giam tại nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Mê Thuột... Tại nhà giam Kon Tum, dưới sự tra tấn khắc nghiệt của địch, Hồ Tùng Mậu đã lấy những vần thơ để nuôi dưỡng ý chí chiến đấu, đồng thời tham gia sáng lập “Hội tao đàn ngục thất”.

Bác Hồ (ngồi đầu tiên, từ phải sang) chụp ảnh cùng một số Ủy viên Trung ương Đảng khóa II (năm 1951) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Hồ Tùng Mậu đứng thứ tư, từ phải sang. (Nguồn: Ảnh tư liệu) Bác Hồ (ngồi đầu tiên, từ phải sang) chụp ảnh cùng một số Ủy viên Trung ương Đảng khóa II (năm 1951) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Hồ Tùng Mậu đứng thứ tư, từ phải sang. (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Dù phải trải qua nhiều nhà lao của đế quốc, chịu cảnh tra tấn dã man nhưng Đồng chí vẫn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, biến nhà tù thành trường học cách mạng. Đồng chí đã trở thành nhà viết kịch, nhà văn, nhà thơ trong tù qua các tác phẩm thơ văn yêu nước và cách mạng.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (09 tháng 3 năm 1945), Hồ Tùng Mậu cùng anh em tù chính trị trốn khỏi nhà lao Trà Khê (Phú Yên) trở về quê nhà Quỳnh Đôi - Nghệ An tiếp tục hoạt động. Biết được tin này, Chính phủ Trần Trọng Kim lập tức mời Đồng chí ra làm cố vấn chính trị nhưng bị từ chối quyết liệt.

Tại quê nhà, Đồng chí tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân giúp nhau cứu đói, tham gia Hội Cứu quốc, ủng hộ cách mạng, còn giao cho con trai là Hồ Mỹ Xuyên tham gia Ủy ban Khởi nghĩa của huyện Quỳnh Lưu. Một phần nhờ vậy, huyện Quỳnh Lưu giành được chính quyền sớm nhất toàn tỉnh Nghệ An trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Khi Đảng ta chuẩn bị phát lệnh Tổng khởi nghĩa, Hồ Tùng Mậu cùng một số đồng chí khác được điều động tăng cường củng cố, lãnh đạo Xứ ủy Trung Kỳ, chuẩn bị lực lượng chính trị, vũ trang tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Điều này đóng góp đáng kể vào thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính ở các tỉnh lỵ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Tùng Mậu đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi giấy mời ra Hà Nội.

Từ tháng 10/1945 đến năm 1947, Đồng chí được cử làm Giám đốc kiêm Chính uỷ Trường quân chính Trung bộ, sau đó là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Trung bộ và Ủy viên Liên khu ủy Liên khu IV. Đặc biệt, năm 1946, để chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân giao nhiệm vụ cho Đồng chí và đồng chí Lê Thiết Hùng lãnh đạo quân sự và chính trị trên địa bàn xung yếu Chiến khu IV.

Ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138b-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và Sắc lệnh số 138c-SL cử đồng chí Hồ Tùng Mậu làm Tổng Thanh tra Chính phủ. Là người đứng đầu ngành, Hồ Tùng Mậu lãnh đạo đẩy mạnh các hoạt động, thực hiện nhiệm vụ xem xét việc thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ; thanh tra các ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết; thanh tra sự khiếu nại của Nhân dân, đồng thời tổ chức, dẫn đầu nhiều đoàn công tác đi kiểm tra tình hình thực tế, làm rõ đúng, sai nhiều vụ việc nổi trội.

Năm 1951, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng thời trở thành Hội trưởng đầu tiên của Hội Việt - Hoa hữu nghị, Đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng phát triển quan hệ Việt - Trung, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chiều ngày 23 tháng 7 năm 1951, trên đường đi công tác qua thị trấn Còng (Thanh Hóa), đoàn cán bộ của Hồ Tùng Mậu bị máy bay giặc Pháp phát hiện và đuổi bắn. Đồng chí đã hy sinh giữa lúc còn tràn đầy năng lực cống hiến. Thương tiếc nhân cách một người cộng sản kiên trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay viết những dòng điếu văn hết sức cảm động:

Chú Tùng Mậu ơi!

Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chǎng?

Về tình nghĩa riêng: Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà, hơn 25 nǎm, đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân.

Về công việc chung: Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân thành lập, đến thời kỳ kháng chiến cứu nước, tôi đã thay mặt Chính phủ và Đoàn thể, giao phó cho chú những trách nhiệm nặng nề. Khi lãnh đạo Liên khu IV, khi giữ chức Tổng thanh tra và kiêm Hội trưởng Hội Việt – Hoa hữu nghị, chú không quản khó nhọc, luôn luôn vui vẻ làm tròn nhiệm vụ.

Ngày nay, kháng chiến đang tiến sang giai đoạn mới, công việc ngày càng nhiều, đồng bào, Chính phủ và Đoàn thể đang cần những người con đắc lực như chú.

Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tuỵ, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi!

Tôi gạt nước mắt, thay mặt Chính phủ, nghiêng mình trước linh hồn chú, và truy tặng chú Huân chương Hồ Chí Minh, để nêu công lao chú đối với đồng bào, đối với Tổ quốc”.

Ngày 18 tháng 01 năm 2008, Đồng chí Hồ Tùng Mậu được truy tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Với 55 tuổi đời (ngày 15 tháng 6 năm 1896 - ngày 23 tháng 7 năm 1951), đồng chí Hồ Tùng Mậu có đến 31 năm hoạt động cách mạng (1920 - 1951), trong đó hơn 14 năm bị giam cầm, đày ải trong các nhà lao đế quốc, 5 lần bị địch bắt, 2 lần bị kết án tử hình. Bất luận trong hoàn cảnh nào, Đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không màng danh lợi, hy sinh tất thảy cho cách mạng; đã “bao phen đồng cam cộng khổ”, “như tay với chân”, trở thành “anh em chí thiết” của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Cho đến phút cuối đời, Đồng chí Hồ Tùng Mậu vẫn luôn xứng đáng với lòng tin của nhân dân, của Đảng, của Hồ Chủ tịch gửi gắm.

Phòng Lý luận chính trị - Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo