Nhân lực làm du lịch vừa thiếu, vừa yếu
ĐB Triệu Thanh Dung (Cao Bằng) cho biết, cả nước chỉ có 9.500 hướng dẫn viên du lịch quốc tế, phục vụ hơn 8 triệu lượt khách nước ngoài du lịch tại Việt Nam và 6 triệu lượt khách Việt Nam ra nước ngoài du lịch trong một năm. Chỉ có 7.150 hướng dẫn viên du lịch nội địa, phục vụ hơn 45 triệu lượt khách du lịch. Ước tính, để phục vụ lượng khách trên, cần tối thiểu 25.000 hướng dẫn viên quốc tế và 20.000 hướng dẫn viên nội địa…
Phân tích về nguyên nhân, ĐB Triệu Thanh Dung cho rằng, nguyên nhân của thực trạng trên là do bất cập liên quan đến việc cấp thẻ hành nghề hướng dẫn viên du lịch. Bên cạnh đó, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn yếu ở vốn kiến thức, trình độ hiểu biết, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, xử lý tình huống, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ, nhất là các ngoại ngữ hiếm. Đặc biệt, do công tác đào tạo hướng dẫn viên chưa chuyên nghiệp, chưa thống nhất. ĐB Triệu Thanh Dung chỉ rõ việc đào tạo, giảng dạy chưa được chuẩn hóa, không thống nhất giữa các hệ đào tạo chuyên ngành du lịch nói chung và hướng dẫn viên du lịch nói riêng. Mặt khác, phần lớn hướng dẫn viên du lịch không xác định làm việc lâu dài nên không có động lực phấn đấu, hoàn thiện. Thêm vào đó, công tác quản lý còn nhiều bất cập, tình trạng hướng dẫn viên du lịch “chui” xuất hiện ngày càng nhiều ở những điểm du lịch nổi tiếng, cá biệt, có hướng dẫn viên du lịch “chui” là người nước ngoài, nói tiếng nước ngoài, sử dụng bằng tiếng nước ngoài và xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam.
Theo ĐB Triệu Thanh Dung, những quy định của dự thảo Luật về hướng dẫn viên du lịch mới chỉ khắc phục được điểm “thiếu” mà chưa giải quyết được căn bản điểm “yếu” của công tác quản lý hướng dẫn viên du lịch. Dự thảo Luật không công nhận nhưng cũng không có điều khoản cấm hướng dẫn viên du lịch nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, hoặc các quy định, viện dẫn các quy định về chế tài xử lý cụ thể.
Đồng tình, ĐB Đoàn Thị Thanh Mai (Hưng Yên) đánh giá, nhân lực làm du lịch của Việt Nam vừa thiếu, vừa yếu, nhất là đội ngũ hướng dẫn viên. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, kể từ khi Cộng đồng ASEAN chính thức đi vào hoạt động, nhân lực du lịch của nước ta có thể mất việc ngay trên sân nhà. “Chính vì vậy, ngoài những quy định của Luật Giáo dục và những quy định chung chung giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo, ngay trong Luật này, cần thiết kế các quy định về những yêu cầu riêng cần có để đào tạo du lịch. Cần đào tạo nhân lực nói chung, nhân viên du lịch nói riêng” – ĐB Mai kiến giải.
ĐB Dương Ngọc Ánh (Hà Nội) cho rằng, con người luôn là yếu tố quyết định, đội ngũ hướng dẫn viên là linh hồn của ngành du lịch, muốn thúc đẩy ngành du lịch, cần phải đầu tư cho con người, trong đó tập trung nâng cao trình độ, năng lực thông qua đào tạo, đánh giá chất lượng để đội ngũ hướng dẫn viên ngày càng chuyên nghiệp hơn. “Hiện nay, có khoảng 2,2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp trong lĩnh vực du lịch nhưng có khoảng 30-40% người chưa được qua đào tạo, bồi dưỡng. Do vậy, tôi đề nghị cẩn bổ sung thêm vào dự thảo Luật một chương riêng về đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch” - ĐB Dương Ngọc Ánh đề xuất.
Cần chính sách cụ thể, cơ chế đột phá
Bày tỏ kỳ vọng vào dự thảo Luật lần này, song, ĐB Dương Minh Ánh (Hà Nội) đề nghị Ban soạn thảo cần thận trọng, cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng để khi Luật ban hành vừa đảm bảo chính sách thông thoáng nhằm phát triển ngành du lịch, nhưng vẫn phải đảm bảo an ninh quốc gia, vấn đề về văn hóa và môi trường.
Nhìn nhận Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch rất lớn với 72 di tích quốc gia đặc biệt, trên 3.200km bờ biển, nhưng chưa khai thác hết tiềm năng, ĐB Đoàn Thị Thanh Mai (Hưng Yên) cho rằng sứ mệnh của Luật du lịch lần này không chỉ thể chế hóa Hiến pháp mà quan trọng hơn là “bắt đúng bệnh”, “kê đúng đơn” để du lịch nước nhà phát triển đúng tiềm năng, thực hiện chính sách của Đảng tại Đại hội lần thứ XII là phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, bảo đảm kinh tế phát triển bền vững.
ĐB Nguyễn Quốc Hưng (Hà Nội) cũng cho rằng, du lịch Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh. Theo ĐB, du lịch có nhiều cơ hội để phát triển mạnh khi được quan tâm đầu tư thích đáng về nhân lực, vật lực. Do đó, cần có chính sách cụ thể hơn, có cơ chế đột phá để du lịch phát triển.
Về việc xếp hạng cơ sở lưu trú, ĐB Dương Minh Ánh (Hà Nội) không đồng tình với quy định trong dự thảo Luật “việc xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện”. ĐB phân tích, qua thống kê, 70% khách sạn ở Việt Nam là vừa và nhỏ, chất lượng không đồng đều. Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, hạ giá, tăng giá tùy tiện, quảng bá không đúng với chất lượng dịch vụ xảy ra ở nhiều nơi. Nếu để các khách sạn tự nguyện đăng ký sẽ xảy ra tình trạng lộn xộn, mất kiểm soát của nhà nước, thiếu sự công bằng và không đảm bảo quyền lợi của khách hàng do chất lượng dịch vụ kém, làm mất uy tín của ngành du lịch.
ĐB Ánh đề nghị nghiên cứu việc xếp hạng cơ sở lưu trú dựa trên nguyên tắc bắt buộc. Thêm vào đó, cần nghiên cứu đưa vào dự thảo Luật nội dung thẩm định lại cơ sở lưu trú để những đơn vị đã được công nhận hạng sao tiếp tục phải đầu tư để duy trì chất lượng khách sạn cũng như chất lượng dịch vụ, tránh tình trạng khi khách sạn đã được công nhận hạng sao, sau một thời gian kinh doanh xuống cấp không chịu đầu tư bảo trì, bảo dưỡng
Quan tâm đến vấn đề thanh tra du lịch, ĐB Đàng Thị Mỹ Hương (Ninh Thuận) cho rằng, quản lý về du lịch nhưng không quy định về cơ chế để thanh tra, kiểm tra, làm cơ sở tổ chức thực hiện và làm cơ sở để quy trách nhiệm quản lý đối với cơ quan chủ quản là không khác gì tạo cơ sở để buông lỏng quản lý. Ban soạn thảo cần quy định chặt chẽ, minh bạch các nội dung về thanh tra, kiểm tra.
Tạo sân chơi bình đẳng, lành mạnh
Giải trình và tiếp thu ý kiến của các ĐB, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện cho biết, quan điểm sửa đổi Luật, Ban soạn thảo đã nghiên cứu kỹ và tiếp thu nhiều ý kiến, tinh thần là muốn thay đổi cách tiếp cận, sẽ quản lý nhưng hạn chế các quy định cấm, cố gắng kết hợp giữa quản lý nhà nước bằng các quy định của pháp luật và bằng công cụ kinh tế. “Chúng tôi kết hợp một cách hài hòa để tạo điều kiện ngành du lịch phát triển phù hợp với cơ chế thị trường, nhà nước tạo môi trường sân chơi bình đẳng, lành mạnh, nhà nước sẽ hậu kiểm, sai sẽ thổi còi. Do đó, trong dự thảo Luật lần này rất ít từ cấm” - Bộ trưởng khẳng định.
Về những quy định liên quan đến hướng dẫn viên du lịch, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện giải thích, dự thảo Luật thông thoáng hơn, những quy định không khả thi đều được bãi bỏ. “Nếu quy định chung chung sẽ tạo điều kiện cho sự nhũng nhiễu của cơ quan cấp phép, nên chúng tôi hủy bỏ và hạ tiêu chuẩn hướng dẫn viên du lịch xuống” – Bộ trưởng cho hay.
Đối với vấn đề thanh tra du lịch, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện giải thích, không quy định trong luật chứ không phải bỏ. Sau này, quy định về thanh tra chuyên ngành du lịch sẽ đề nghị Chính phủ có quy định chặt chẽ hơn.
Cũng trong chiều nay, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo với 84,58% đại biểu tán thành. Luật có 9 Chương, 68 Điều, quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Luật cũng quy định chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Đặc biệt, để đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định rõ người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. |