Thứ Năm, ngày 2 tháng 12 năm 2021

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Quận 8 (khóa VII) trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 8 lần thứ VIII

            Năm năm qua, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ VII diễn ra trong bối cảnh thuận lợi: Giữ vững được ổn định chính trị; sự nghiệp đổi mới tiếp tục giành nhiều thành tựu quan trọng; kinh tế – xã hội có mức tăng trưởng, tiến trình đô thị hóa được đẩy nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện hơn. Song, các khó khăn cũng hết sức gay gắt : kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, áp lực dân số, nhất là tăng dân số cơ học, đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết, đời sống của một bộ phận dân cư còn ở mức thấp.

            Với sự nỗ lực phấn đấu và tinh thần năng động sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân Quận 8 đã khắc phục khó khăn, thu được nhiều thành quả đáng phấn khởi trong quá trình đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ VII đi vào cuộc sống.

            Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 8 lần này có nhiệm vụ tổng kết toàn diện những thành tựu đạt được trong 5 năm qua, chỉ ra những tồn tại, yếu kém, rút được nguyên nhân – kinh nghiệm thực tiễn; xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm tới (2000-2005).

Phần thứ nhất

NHỮNG BIẾN ĐỔI CHỦ YẾU TRONG 5 NĂM QUA

I. NHỮNG THÀNH TỰU :

                        1/ Các nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế được chỉ đạo thực hiện có kết quả :

Cùng với nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp một cách thiết thực, việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế trong 5 năm qua đạt được kết quả khả quan, thể hiện ở các mặt sau:

Cơ cấu các khu vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng đô thị hóa và theo quy hoạch. Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được duy trì và đạt mức tăng trưởng khá cao. Trong 5 năm, tốc độ tăng về giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là15%, đảm bảo được yêu cầu chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội (từ 15 – 20%). Các ngành: chế biến lương thực thực phẩm, cao su – nhựa, may mặc, bao bì giấy, sản phẩm từ kim loại… luôn chiếm tỷ trọng cao. Các doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị và quy trình công nghệ, tạo ra được nhiều sản phẩm đạt chất lượng cao. Đã tổ chức thực hiện 2 đề tài nghiên cứu khoa học về các biện pháp quản lý Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn nâng cao trình độ công nghệ phục vụ công nghiệp hoá-hiện đại hoá.

Sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp dần theo tiến trình đô thị hóa, các phường còn sản xuất nông nghiệp được tập trung giải quyết về giao thông, nâng cấp các tuyến đê bao thủy lợi, đầu tư cây, con giống và kỹ thuật mới nên năng suất cây trồng, vật nuôi ổn định và nâng lên. Hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp từng bước đầu tư đa dạng hoá; phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi được duy trì và phát triển.

Các hoạt động dịch vụ - thương mại phát triển khá nhanh với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, phục vụ các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, nghiên cứu, du lịch, đào tạo, thông tin kinh tế thị trường,… góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa gắn với tiến trình đô thị hóa. Đã xây dựng mới chợ Bình Đăng, nâng cấp, sửa chữa một số chợ, như : Hưng Phú, Bình Đông, Nguyễn Chế Nghĩa, Nhị Thiên Đường, Rạch Cát… Tốc độ tăng bình quân hàng năm về kim ngạch xuất nhập khẩu và hoạt động thương mại dịch vụ đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội (kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 21% so chỉ tiêu là 20 - 25%; thương mại-dịch vụ đạt 25% so chỉ tiêu là 14-15%).

            Các doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế Đảng được tập trung củng cố, sắp xếp lại theo hướng quản lý chuyên ngành và đa dạng hóa hình thức sở hữu. Trong nhiệm kỳ, đã tổ chức chuyển giao 2 doanh nghiệp Nhà nước và 3 doanh nghiệp hoạt động xây dựng ngân sách Đảng về các tổng công ty chuyên ngành và các Sở của Thành phố quản lý; củng cố và bổ sung chức năng hoạt động của doanh nghiệp công ích; tiến hành cổ phần hóa 4 doanh nghiệp Nhà nước còn lại.

            Một số loại hình kinh tế khác được quan tâm duy trì hoạt động và khuyến khích phát triển. Đã tiến hành đăng ký chuyển đổi 14 hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã, 5 hợp tác xã còn lại do không đủ điều kiện phải giải thể; sau chuyển đổi, các hợp tác xã từng bước được củng cố và đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng nhiều loại hình hoạt động. Kinh tế tư nhân được chú trọng tăng cường về mặt quản lý, tạo điều kiện và phát triển khá nhanh. Hơn 7.000 cơ sở sản xuất kinh doanh và hơn 250 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đang cùng hoạt động (tăng 1.400 cơ sở và 80 doanh nghiệp so đầu nhiệm kỳ), thu hút 18.000 lao động, trong đó, lĩnh vực thương mại-dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn về vốn và lao động.

            Kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội được đầu tư xây dựng ngày càng tăng trên cơ sở xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyên đề về phát triển đô thị, tăng cường mối quan hệ với các ngành và lãnh đạo Thành phố. Mức đầu tư phát triển trên địa bàn tăng bình quân hàng năm hơn 22,7%, góp phần cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới một số cầu đường và cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm lo đời sống của nhân dân như: cầu Chà Và, cầu Kinh Ngang số 2, đường trục Tạ Quang Bửu, công viên - đài tưởng niệm liệt sĩ phường 7, Công viên Dạ Nam phường 3, xây dựng mới 12 trường và sửa chữa lớn 3 trường, bê tông hóa gần 90% các hẽm trên địa bàn với 123.833m­2 hẽm và 30.007m ống cống thoát nước và nhiều đoạn dọc kinh Tàu Hũ được giải toả và kè đá, trồng cây xanh (hơn 3 Km). Đồng thời, hệ thống cấp điện và thông tin liên lạc trên địa bàn cũng được các đơn vị chuyên ngành đầu tư cải tạo, mở rộng, cơ bản có thể đáp ứng được nhu cầu trước mắt về sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Hoạt động đầu tư các dự án ngoài ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan, góp phần hình thành một số khu sản xuất, thương mại, dịch vụ theo quy hoạch, như: khu dân cư - công nghiệp Bình Đăng, khu dân cư - công nghiệp Phường 16, khu dân cư - công nghiệp Phường 7, khu dân cư - vui chơi phường 4. Đã có 125 dự án đầu tư với tổng diện tích đất là 210ha và tổng vốn đăng ký hơn 1.000 tỷ đồng; đã có 60 dự án với tổng vốn hơn 200 tỷ đồng hoàn tất việc xây dựng và đi vào sản xuất kinh doanh.

            Việc điều hành, cân đối ngân sách địa phương có nhiều tiến bộ, đảm bảo đúng theo luật định, tạo được sự chủ động và đáp ứng nhu cầu chi cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc huy động các nguồn lực xã hội cũng đạt kết quả nhất định (tăng bình quân hàng năm hơn 13%) đã góp phần chăm lo các mặt đời sống xã hội và củng cố quốc phòng–an ninh.

            2/ Đời sống của nhân dân và các mặt văn hóa – xã hội được chăm lo cải thiện:

Đảng bộ luôn chú trọng thực hiện các mục tiêu xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân có hiệu quả, gắn tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội.

            Bình quân hàng năm, đã giải quyết việc làm cho hơn 8.500 lao động thông qua việc phát triển sản xuất kinh doanh, triển khai các dự án nhỏ giải quyết việc làm, hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm. Trung tâm dạy nghề được đầu tư mở rộng quy mô hoạt động và nâng thành trường Trung học kỹ thuật nghiệp vụ Nam Sài gòn. Chương trình xóa đói giảm nghèo ngày càng đi vào chiều sâu và trở thành phong trào quần chúng rộng rãi với tổng nguồn quỹ hơn 6 tỷ đồng,  đang trợ vốn cho 5.277 lượt hộ, đã giúp 1.194 hộ thoát khỏi chương trình, không để phát sinh trường hợp hộ đói. Việc chăm lo đời sống cho diện chính sách, cán bộ hưu trí, dân nghèo được quan tâm thiết thực qua các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh nặng và các bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhất là thực hiện chính sách ưu đãi cho 1.200 người có công với cách mạng theo Nghị định 28/CP của Chính phủ. Ngoài ra, Quận uỷ cũng tổ chức các đợt tham quan, nghỉ mát cho cán bộ hưu trí, bà mẹ Việt Nam anh hùng; hoạt động nghĩa tình đối với các cơ sở, vùng căn cứ cách mạng cũ của cán bộ quận trong thời kỳ kháng chiến.

            Nhu cầu về nhà ở của nhân dân được quan tâm thực hiện. Thông qua việc quy hoạch và xây dựng các khu dân cư Bình Đăng, Chánh Hưng, Bùi Minh Trực phường 5, phường 6, giải quyết nền cho nhân dân tự xây dựng, triển khai xây dựng khu nhà ở cho người có thu nhập thấp,… đã tạo điều kiện từng bước ổn định cuộc sống của nhân dân. Đồng thời, cuộc vận động xây dựng nhà tình nghĩa – nhà tình thương cũng được chỉ đạo đẩy mạnh, đã xây dựng 146 nhà tình nghĩa, vượt hơn chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội (20 căn/năm), 221 nhà tình thương và sửa chữa chống dột, ngập cho 422 hộ dân nghèo.

            Các mặt hoạt động văn hóa - xã hội có tiến bộ. Chất lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên, hiệu suất đào tạo, tỷ lệ huy động học sinh và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp ở các cấp hàng năm đều tăng và đảm bảo chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội (tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 từ 80,83% năm 1996 lên 99,8% năm 2000 so chỉ tiêu Đại hội là 95%; trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo  từ 62,91% năm 1996 lên 77,26% năm 2000 so chỉ tiêu Đại hội là 60-70%); cơ sở vật chất trường lớp và phương tiện giảng dạy được đầu tư hơn; đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học trong độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở; xây dựng được 2 trung tâm giáo dục có chất lượng cao (trường tiểu học Trần Nguyên Hãn, mẫu giáo Việt Nhi).

Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân đạt khá, ý thức vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường, thực hiện kế hoạch hóa gia đình có chuyển biến, giảm được tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,366% (năm 1995) xuống còn 1,269% (năm 2000); hoạt động thể dục thể thao cơ sở có bước phát triển, kết quả thi đấu ở một số bộ môn chủ lực có tiến bộ, Trung tâm Thể dục thể thao được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và từng bước phát huy tốt công năng, thu hút nhiều quần chúng và thanh thiếu niên tham gia luyện tập. Việc đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thực hiện 7 chương trình hành động “vì trẻ em” được sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước.

            Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống, di tích lịch sử và văn hóa luôn được chú trọng. Các hoạt động văn hoá, lễ hội được tổ chức khá quy mô, thu hút nhiều quần chúng tham  gia. Các hoạt động văn hoá, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở gắn kết với việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã tạo nên chuyển biến khá tích cực: các thiết chế và cơ sở hoạt động văn hóa được đầu tư xây dựng, phong trào văn hoá quần chúng, xây dựng công sở văn minh, gia đình văn hóa có chiều hướng phát triển rộng khắp, có 26 khu phố xuất sắc được Thành phố công nhận và tổ chức ra mắt 14 khu phố văn hóa. Các giá trị, di tích văn hóa, lịch sử như: đình Bình Đông, lò gốm Hưng Lợi và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Hoa, Chăm, ca nhạc tài tử… được đầu tư bảo tồn, phát triển phục vụ công tác giáo dục truyền thống, nâng cao tự hào dân tộc. Phát triển có kết quả mạng lưới cơ sở dịch vụ văn hoá (phát triển được 536 cơ sở, tăng 27% so đầu nhiệm kỳ); các vi phạm trên lĩnh vực hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá ngày càng giảm (giảm 80% so năm 1996).

            3/ Tình hình an ninh – trật tự và công tác quốc phòng địa phương có chuyển biến :

            Gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ luôn chú trọng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. Đảm bảo giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, giải quyết tốt một số vụ việc có liên quan đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để phát sinh phức tạp. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là các băng nhóm và tệ nạn ma túy, được tập trung thực hiện có kết quả; đã triệt phá hơn 100 băng nhóm tội phạm hình sự, bắt xử lý 454 vụ mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy, chuyển hoá một bước các tụ điểm phức tạp về hình sự, ma túy.

Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố và phát huy hiệu quả. Việc xây dựng lực lượng vũ trang, công an, an ninh cơ sở, dân quân tự vệ, dự bị động viên có nhiều tiến bộ; các phương án xây dựng khu vực phòng thủ quận, phường được củng cố, hoàn thiện thường xuyên, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo chỉ huy lực lượng sẵn sàng chiến đấu của cấp uỷ, chính quyền và cơ quan quân sự các cấp được nâng lên. Các đợt tấn công tội phạm, hoạt động liên tịch, hoạt động tác chiến trị an được triển khai thường xuyên có trọng tâm, trọng điểm, đã  hạn  chế  nhất  định  các  phát  sinh  phức  tạp  của  tình  hình

trật tự an toàn xã hội. Công tác tuyển quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu trên giao; chính sách hậu phương quân đội được thực hiện khá tốt, đã quan tâm hơn đến công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm cho số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trở về.

            Công tác đấu tranh chống tham nhũng được tập trung chỉ đạo có kết quả. Qua tổ chức 685 cuộc thanh tra, kiểm tra của các ngành và phường đã phát hiện tổng số tài sản thiệt hại do tham nhũng hơn 2,338 tỷ đồng, 13 lượng vàng và 600m2 đất; xử lý kỷ luật 104 người, khởi tố 4 người; uốn nắn kịp thời một số thiếu sót trong công tác quản lý tài chính ngân sách ở một số đơn vị (đã thu hồi được hơn 1,841 tỷ đồng, 13 lượng vàng và 600m2 đất).

            Công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tăng cường, nhất là các bộ luật mới. Hoạt động kiểm sát, xét xử, giam giữ đảm bảo đúng theo luật định, không để oan sai, góp phần giữ gìn kỷ cương phép nước, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật. Công tác thi hành án có nhiều cố gắng trong việc giải quyết nhanh lượng án mới phát sinh và hạn chế số án tồn đọng. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được củng cố, đi vào nề nếp và đảm bảo theo luật định.

            4/ Công tác vận động quần chúng có nhiều chuyển biến tích cực:

            Sự lãnh đạo của Đảng bộ về công tác quần chúng được chú trọng tăng cường. Đã xây dựng và thực hiện có kết quả các nghị quyết, kế hoạch chuyên đề về công tác quần chúng, như : củng cố hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên, xây dựng giai cấp công nhân, công tác vận động phụ nữ và cán bộ nữ, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng nòng cốt chính trị,… Đồng thời, đã kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh với việc giải quyết các nhu cầu bức xúc và chính đáng của nhân dân, động viên được trí tuệ, nguồn lực, tính tích cực của các giới quần chúng tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của Đảng bộ. Các cấp uỷ Đảng đã chú trọng lãnh đạo thực hiện công tác vận động quần chúng, phân công đảng viên thực hiện cuộc vận động ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, quan tâm củng cố, xây dựng tổ chức cán bộ các đoàn thể.

            Chính quyền các cấp đã tổ chức thực hiện có kết quả nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến đời sống, sinh hoạt và lợi ích của quần chúng; thực hiện cải cách hành chính giảm phiền hà cho nhân dân; tổ chức tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đi dần vào nề nếp; triển khai có kết quả bước đầu về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân.

            Chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước được quán triệt và cụ thể hóa thực hiện có kết quả. Đã tranh thủ, động viên đông đảo nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo, đồng bào các dân tộc cùng tham gia phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Việc tăng cường hướng dẫn hoạt động các tôn giáo đảm bảo theo quy định của Nhà nước.

            Nội dung và phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể có nhiều đổi mới, nâng cao được vai trò chính trị của tổ chức, vận động, thu hút được các giới quần chúng tham gia. Nội dung hoạt động chủ yếu hướng vào việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục truyền thống dân tộc và văn hóa đạo đức trong quan hệ xã hội, giáo dục chính trị theo giới; chăm lo đời sống tinh thần, vật chất; gắn kết chặt chẽ các phong trào với việc vận động quần chúng các giới tham gia thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – văn hoá –  xã hội, quốc phòng – an ninh của địa phương, các chương trình, các cuộc vận động xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, phát huy dân chủ của nhân dân. Phương thức hoạt động đổi mới thông qua việc hướng mạnh về cơ sở, tổ chức phong trào quần chúng tận cơ sở, mở rộng các loại hình sinh hoạt, tập hợp theo ngành nghề, sở thích, giới tính như câu lạc bộ, đội, nhóm, tập trung là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Qua phong trào đã nâng cao trình độ nhận thức về tư tưởng, tổ chức và cán bộ đoàn thể có tinh gọn hơn, lực lượng nòng cốt chính trị trong các giới quần chúng được quan tâm xây dựng, hệ thống chân rết ở khu phố, tổ dân phố, chất lượng và số lượng đoàn viên, hội viên được củng cố và nâng lên. Việc thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội về xây dựng tổ chức của các đoàn thể có kết quả (xây dựng 100% công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh ở các doanh nghiệp có điều kiện theo luật định; phát triển 5022 đoàn viên thanh niên, đạt hơn 10% tổng số thanh niên toàn quận; phát triển 8902 hội viên phụ nữ, đạt 17,53% so tổng số phụ nữ toàn quận).

            5/ Hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước của chính quyền được củng cố, tăng cường hơn:

            Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp chú trọng cải tiến hơn về phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đại biểu, đảm bảo tính khả thi của nghị quyết, quan tâm giải quyết những vấn đề về dân sinh, dân chủ của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các ban của Hội đồng nhân dân Quận chú trọng tăng cường hoạt động hướng vào việc kiểm tra, giám sát, thẩm định việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông qua đó gắn bó hơn với cơ sở, với cử tri. Các hoạt động trong nhiệm kỳ đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.

            Qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và chỉ đạo của Thành phố về cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa, một dấu”, hiệu lực quản lý hành chính Nhà nước được củng cố, tăng cường có hiệu quả. Các cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân Quận giảm từ 21 xuống còn 11 phòng ban và 4 tổ chức sự nghiệp; thành lập và đưa vào hoạt động Tổ tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ, góp phần làm giảm phiền hà cho nhân dân trong công tác giải quyết thủ tục hành chính; đội ngũ cán bộ công chức được sắp xếp tinh gọn và đào tạo, đào tạo lại theo hướng tiêu chuẩn hóa; thường xuyên tiến hành rà soát bãi bỏ các văn bản không hợp lý, ban hành các văn bản mới. Hiệu lực quản lý hành chính Nhà nước có tiến bộ trên nhiều mặt, chủ động thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Quận uỷ, Hội đồng nhân dân về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.

            Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và các nghị định của Chính phủ có kết quả bước đầu. Tính dân chủ, đoàn kết, công khai trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị có tiến bộ; ý thức chấp hành pháp luật, tính tự nguyện của nhân dân trong tham gia xây dựng chính quyền, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng ở cơ sở được nâng lên.

            6/ Công tác xây dựng Đảng đạt nhiều kết quả, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ:

            Đảng bộ luôn coi trọng việc tăng cường lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng, kịp thời tổ chức quán triệt và cụ thể hóa những chủ trương, chính sách, định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước cho tất cả đảng viên thông suốt, nâng cao nhận thức tư tưởng, ý thức tôn trọng kỷ cương, kỷ luật, chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy lòng tự hào về Đảng, về truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương trong sự nghiệp đổi mới của đất nước. Đồng thời, chú trọng nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ đảng viên, nắm và xử lý dư luận xã hội; duy trì thường xuyên việc tổ chức thông tin thời sự, thông tin chuyên đề (chính sách, kinh tế - xã hội, pháp luật, công tác Đảng, …) cho đội ngũ cán bộ đảng viên, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh. Do đó, nhận thức tư tưởng chính trị của đại bộ phận đảng viên luôn ổn định, vững tin hơn vào con đường đi lên của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, nói và làm theo Cương lĩnh, Điều lệ và nghị quyết của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng chính trị trong toàn Đảng bộ được giữ gìn và phát huy, chưa có biểu hiện gì về tán phát tài liệu, truyền bá quan điểm sai trái, xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.

            Chất lượng cơ sở Đảng có chuyển biến tích cực qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Kế hoạch 08 của Quận uỷ. Nhiều đảng bộ, chi bộ ngày càng xác định đầy đủ hơn chức năng, nhiệm vụ, phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị; thực hiện khá nề nếp chế độ sinh hoạt, quy chế hoạt động, công tác quản lý kiểm tra đảng viên, công tác tự phê bình – phê bình; các tổ chức trong hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể được củng cố và nâng dần hiệu quả. Kết quả xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh vượt chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội (cuối năm 1999, có 40/54 cơ sở đạt trong sạch vững mạnh, chiếm 74,07% so chỉ tiêu Đại hội là 2/3).

            Chất lượng của đội ngũ đảng viên được giữ vững và nâng lên. Công tác giáo dục, kiểm tra, quản lý đảng viên được các cấp uỷ thường xuyên tăng cường; nhiều đảng viên nghỉ hưu tiếp tục cống hiến vì sự nghiệp cách mạng, vì nhiệm vụ chính trị của địa phương, thực sự là chỗ dựa vững vàng ở cơ sở và đối với thế hệ trẻ. Qua thực hiện tự phê bình - phê bình theo Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), có 97,73% đảng viên đủ tư cách, trong đó có 461 đảng viên được biểu dương ở cơ sở và 154 đảng viên được Quận uỷ biểu dương.

Công tác phát triển đảng viên mới được tập trung chỉ đạo. Trong nhiệm kỳ, đã kết nạp được 278 đảng viên mới. Một số lĩnh vực có đông quần chúng như giáo dục, y tế, dân quân tự vệ, khu phố, tổ dân phố có chuyển biến hơn trong việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển đảng viên mới.

            Công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ được tập trung thực hiện có kết quả. Cùng với quy hoạch cán bộ dự bị các chức danh đương chức của Quận và cơ sở, Đảng bộ có chú ý hơn công tác quy hoạch cán bộ dự nguồn, quy hoạch cán bộ dài hạn phục vụ thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2010. Quận đã xây dựng quy hoạch và bố trí được 3 đồng chí trong chức danh thuộc diện Thành uỷ quản lý; có 15 cơ sở bố trí được cán bộ theo quy hoạch; 13 cháu là con của cán bộ đảng viên được cử đi học lớp trung học chính trị và được bố trí làm việc sau khi học xong. Đảng bộ có sự tập trung về kinh phí và tạo điều kiện để thực hiện việc đào tạo cán bộ. Công tác đào tạo cán bộ được thực hiện theo hướng vừa phục vụ quy hoạch, chuẩn hóa cán bộ, vừa trang bị và nâng cao kiến thức về nhiều mặt cho đội ngũ cán bộ với nhiều phương thức linh hoạt (tập trung, tại chức, hiệp quản, bồi dưỡng,…). Các cấp uỷ cơ sở, lãnh đạo các đơn vị luôn tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ tham gia học tập. Đến nay, về chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ cán bộ do Ban Thường vụ Quận uỷ trực tiếp quản lý có 55,92% có trình độ đại học, 41,03% có trình độ văn hoá cấp III; về lý luận chính trị, có 45,28% có trình độ cao cấp và đại học, 35,25% là trung cấp.

            Công tác cán bộ nữ được Đảng bộ quan tâm thực hiện có kết quả. Đội ngũ cán bộ nữ là lãnh đạo chủ chốt của quận chiếm 22,27%, cấp phường chiếm 20,43%, đảng viên nữ chiếm 24,90%. Đã thành lập và hoạt động khá nề nếp Tiểu ban công tác cán bộ nữ, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Câu lạc bộ cán bộ nữ chủ chốt, qua đó có góp phần nâng cao nhận thức, kinh nghiệm để cán bộ nữ vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được phân công.

            Công tác kiểm tra của Đảng được tăng cường. Quận uỷ và các cấp uỷ cơ sở ngày càng chú trọng công tác kiểm tra, nhất là kiểm tra việc thực hiện  nghị quyết của Đảng và kế hoạch chuyên đề trên các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác giáo dục, việc thực hiện các chính sách xã hội và công tác xây dựng Đảng. Uỷ ban kiểm tra các cấp đã thực hiện tốt nhiệm vụ theo Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp uỷ giao, nhất là kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm (đã tiến hành kiểm tra 16 lượt cơ sở Đảng và 73 lượt đảng viên, cấp uỷ viên có dấu hiệu vi phạm). Nội dung và phương thức hoạt động của uỷ ban kiểm tra các cấp được cải tiến và nâng cao hiệu quả; sự phối hợp giữa công tác kiểm tra của Đảng với Thanh tra Nhà nước và sự giám sát của quần chúng trong công tác đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng và vi phạm pháp luật ngày càng chặt chẽ; đã xử lý nghiêm các trường hợp đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Với phương châm ngăn ngừa là chính, cố gắng hạn chế thấp nhất các trường hợp tổ chức và đảng viên sai phạm khuyết điểm; trong 5 năm, đã xử lý kỷ luật với các hình thức là103 trường hợp (nhiệm kỳ 1991 - 1995 là 127 trường hợp và 1 tổ chức bị kỷ luật); kịp thời giải quyết không để tồn đọng đơn thư khiếu nại, tố cáo đối với đảng viên. Hàng năm, ngoài các đợt kiểm tra có trọng tâm trọng điểm theo chuyên đề, Đảng bộ đã duy trì thường xuyên việc kiểm tra cơ sở về thực hiện nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ xây dựng Đảng.

            Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ đảng viên, góp phần tích cực phục vụ công tác cán bộ, công tác phát triển đảng viên mới. Qua các đợt học tập, quán triệt các quy định của Trung ương, nhận thức của cấp uỷ các cấp và cán bộ đảng viên về công tác bảo vệ chính trị nội bộ ngày càng chuyển biến mạnh hơn.

            NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA NHỮNG THÀNH TỰU:

            Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ngày càng được hoàn thiện đã tác động mạnh mẽ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo và các ngành của Thành phố có sự quan tâm nhiều hơn đến quá trình phát triển của quận; lãnh đạo và các ngành của quận cũng tranh thủ được sự hỗ trợ của các ngành và lãnh đạo Thành phố ngày càng hiệu quả là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự nghiệp phát triển của địa phương.

            Sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động của Đảng bộ được giữ gìn, tính năng động sáng tạo của cơ sở và nhân dân được phát huy, do vậy, tiềm năng thế mạnh của quận, các nguồn lực trong nhân dân từng bước được khai thác, sử dụng có kết quả.

            Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể quần chúng thường xuyên được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đa số cán bộ đảng viên đều kiên định lý tưởng, tận tụy chịu khó nghiên cứu, vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với thực tế tình hình, hướng về cơ sở, bám sát cơ sở để phát hiện nhân tố mới, xử lý những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ chủ chốt luôn được củng cố, bồi dưỡng, giáo dục, đào tạo và ngày càng nâng cao trách nhiệm, năng lực hoạt động thực tiễn nhằm vươn lên đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Việc đề ra các chủ trương, nghị quyết đúng đắn trên các lĩnh vực sát hợp với thực tiễn của quận là điều kiện tiên quyết để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Nhìn chung, năng lực, trình độ lãnh đạo của Đảng bộ ngày càng được nâng lên, đã có sự nghiên cứu, đầu tư đúng hướng, tạo được sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế - xã hội.

            II. NHỮNG TỒN TẠI, YẾU KÉM :

            1/ Kinh tế tăng trưởng thiếu vững chắc.          Đa số cơ sở sản xuất kinh doanh còn ở quy mô nhỏ, tiềm lực về vốn, thiết bị và quy trình công nghệ còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

            Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng gay gắt, thị phần tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước còn hạn chế. Các hợp tác xã sau chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã còn lúng túng về phương thức hoạt động, gặp nhiều khó khăn về vốn và bộ máy quản lý điều hành, điều kiện hoạt động. Công tác phối hợp quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa đồng bộ và chặt chẽ, nhất là từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp, cải tiến công tác đăng ký kinh doanh đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh.

            Kết cấu hạ tầng kỹ thuật tuy có chuyển biến hơn so các năm trước đây, song cũng chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển, chưa tạo thành lực hút mạnh mẽ các nhà đầu tư và phát huy nội lực của quận. Việc quy hoạch và triển khai quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý đô thị còn hạn chế và chưa kiên quyết, một số mục tiêu chậm được thực hiện như : xây dựng các khu dân cư mới, nhà cho cán bộ công chức và người có thu nhập thấp; công tác chỉnh trang đô thị còn nhiều khó khăn, tình trạng xây cất bất hợp pháp, không theo quy hoạch, vi phạm quy hoạch khá phổ biến song chưa có biện pháp khắc phục có hiệu quả và kịp thời.

            2/ Đời sống của nhân dân và các mặt văn hóa - xã hội còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Đó là : Áp lực tăng dân số cơ học và nhu cầu việc làm của người lao động đang ngày càng tăng; mức sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn ở mức thấp cần được chăm lo cải thiện (toàn Quận còn 9.600 hộ thuộc diện nghèo và đời sống của gia đình diện chính sách còn khó khăn); cùng với việc đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa, vấn đề đền bù, di dời, tái định cư cho hơn 10.000 căn hộ trên và ven kinh rạch đang rất bức xúc đòi hỏi phải có kế hoạch, biện pháp khả thi để thực hiện; cơ sở vật chất phục vụ đời sống văn hóa cơ sở còn thiếu thốn, nghèo nàn; vệ sinh môi trường ô nhiễm đáng báo động, cấp thoát nước yếu kém, nhiều khu vực bị ngập do triều cường kéo dài chậm khắc phục, nhu cầu nước sinh hoạt một số nơi còn khó khăn.

3/ Lĩnh vực quốc phòng - an ninh còn một số mặt đáng quan tâm.

Tinh thần cảnh giác trước các hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ bí mật Nhà nước của một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân còn hạn chế; trật tự xã hội còn diễn biến phức tạp (tình hình phạm pháp hình sự tuy có giảm nhưng chưa cơ bản, tệ nạn xã hội, tiêu cực xã hội vẫn còn là nỗi lo của mỗi gia đình và toàn xã hội, nhất là ma túy…).

Chất lượng chính trị và hiệu quả hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ tuy được tập trung củng cố có chuyển biến hơn trước, song chưa thật đảm bảo theo yêu cầu.

Công tác giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân còn thiếu chiều sâu; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân, nhất là trên lĩnh vực xây dựng, giao thông còn thấp.

4/ Hệ thống chính trị tuy có chuyển biến song chưa thật ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu và xử lý dư luận xã hội chưa theo kịp diễn biến của tình hình kinh tế - xã hội. Vai trò, hạt nhân lãnh đạo chính trị của một số ít tổ chức Đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ. Chưa có giải pháp tốt để thực hiện việc tạo nguồn cán bộ lâu dài phục vụ chiến lược cán bộ. Công tác quản lý, giáo dục và kiểm tra đảng viên có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức, sự rèn luyện của một bộ phận đảng viên còn thấp, trong đó có cán bộ lãnh đạo. Công tác phát triển Đảng chưa đạt yêu cầu mong muốn của Đảng bộ.

Năng lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực (đất đai, xây dựng, quản lý xã hội,…) còn yếu kém, khó khăn; một số phòng ban và một bộ phận cán bộ công chức chưa thực sự hết lòng vì công vụ, tận tụy với dân, một số ít còn có biểu hiện nhũng nhiễu.

Sự chuyển biến về nhận thức và hành động của đảng viên và cơ sở về công tác quần chúng thiếu đồng bộ. Việc đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động của mặt trận, các đoàn thể chưa theo kịp nhu cầu sinh hoạt, tập hợp của quần chúng; vai trò nòng cốt chi phối và tác động các tầng lớp quần chúng còn hạn chế, nhất là quần chúng trong tôn giáo, dân tộc.

NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA NHỮNG TỒN TẠI:

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội tuy có được quan tâm đầu tư nhưng cũng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, việc lưu thoát giao thông còn ách tắc làm hạn chế đến việc thu hút đầu tư, huy động các nguồn lực xã hội phục vụ nhu cầu phát triển của quận.

Năng lực lãnh đạo trên lĩnh vực chính trị tư tưởng từng lúc, từng nơi chưa theo kịp diễn biến tình hình; việc tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân chưa thật đồng bộ.

Bộ máy và cán bộ tuy được sắp xếp, củng cố, kiện toàn một bước và có chuyển biến khá hơn trước, song nhìn chung cũng chưa thật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ còn chậm và chưa thật khoa học, trong từng thời gian, trước nhiều công việc phải chỉ đạo và tổ chức thực hiện còn thể hiện sự bị động.

III. NHỮNG KINH NGHIỆM THỰC TIỄN :

Từ những thành tựu và yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VII, có thể rút ra mấy kinh nghiệm thực tiễn về công tác lãnh đạo, chỉ đạo như sau :

1/ Xây dựng và phát huy sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động của toàn Đảng bộ là nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội. Sự đoàn kết thống nhất phải luôn gắn với việc nói và làm theo nghị quyết của Đảng, Nghị quyết Đại hội. Sự đoàn kết thống nhất phải dựa trên cơ sở phát huy dân chủ trong Đảng, thường xuyên tự phê bình và phê bình.

2/ Tổ chức và cán bộ là nhân tố có tính quyết định trong quá trình đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống.

Mọi tổ chức trong hệ thống chính trị phải luôn được củng cố, tăng cường về vai trò lãnh đạo, quản lý và hoạt động một cách toàn diện và đồng bộ; trong đó, tổ chức Đảng phải thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị. Cùng với việc củng cố, tăng cường về mặt tổ chức, phải thấy được và có biện pháp động viên, khai thác có hiệu quả các tiềm năng to lớn của quần chúng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chung.

Cùng với tổ chức, đội ngũ cán bộ cũng phải được tập trung xây dựng đủ mạnh,  có đủ năng lực, trình độ để thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp đề ra. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ phải vừa đảm bảo cho yêu cầu trước mắt, vừa phải nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng trong những năm tiếp sau, đảm bảo cho việc chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ.

3/ Công tác kiểm tra luôn luôn được coi trọng. Kiểm tra là một khâu quan trọng trong việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Để kiểm nghiệm tính khả thi và sức sống của nghị quyết, chủ trương của Đảng, điều quan trọng là phải thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra (vừa ở diện rộng, vừa có trọng tâm trọng điểm) và chế độ đi cơ sở, làm việc với cơ sở nhằm kịp thời nắm và giải quyết các vướng mắc, khó khăn, phát hiện và động viên tính năng động sáng tạo của cơ sở, của nhân dân, phát huy và nhân rộng các mặt tích cực, các nhân tố mới.

4/ Tích cực tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ của Thành phố là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển của quận. Quận 8 là một bộ phận của Thành phố đang trong quá trình đô thị hóa, do đó, nhiều vấn đề đặt ra về kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội, môi sinh môi trường, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đòi hỏi sự đầu tư rất lớn và tập trung mà tự thân quận không thể giải quyết được. Tranh thủ được sự đầu tư, hỗ trợ của Thành phố càng hiệu quả thì sự phát triển của quận sẽ càng nhanh, sớm bắt kịp và hòa nhập vào sự phát triển chung của Thành phố.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

VÀ AN NINH - QUỐC PHÒNG TRONG 5 NĂM TỚI (2000-2005)

Những năm đầu của thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới, sự nghiệp phát triển của quận diễn ra trong bối cảnh chung là : Ổn định chính trị tiếp tục được giữ vững, quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại có bước phát triển mới; kinh tế - xã hội của cả nước, của Thành phố ổn định và phát triển; nhiều công trình xây dựng của Thành phố được tập trung thi công (cầu đường Nguyễn Tri Phương, đại lộ Đông Tây…), cùng với việc đầu tư phát triển các khu đô thị mới Nam Sài Gòn sẽ tác động rất lớn đến sự phát triển của quận; các nguồn lực trong nhân dân sẽ được khai thác và phát huy mạnh mẽ.

            Cùng với những thuận lợi trên, Quận 8 cũng đang đứng trước thử thách lớn giữa sự phát triển của khu đô thị mới và khu đô thị hiện hữu; nhiều vấn đề bức xúc đặt ra về đời sống - việc làm, trình độ học vấn và tay nghề lao động, di dời, tái định cư nhà trên và ven kinh rạch, ô nhiễm môi sinh môi trường.

            Từ dự báo trên, nhiệm vụ xây dựng và phát triển quận trong 5 năm tới được xác định như sau :

I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU CHUNG :

1/ Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với việc đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa phù hợp với quy hoạch tổng mặt bằng được duyệt; chuyển mạnh cơ cấu kinh tế Quận theo hướng thương mại, dịch vụ - công nghiệp .

2/ Hoàn thiện cơ bản hệ thống giao thông nội bộ và với các nơi khác; mạng lưới cơ sở vật chất của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thaovà các khu sản xuất công nghiệp.

3/ Đảm bảo tăng trưởng kinh tế  đi đôi với công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cải thiện và nâng cao dần đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá.

4/ Giữ vững ổn định chính trị, làm chuyển biến tình hình trật tự an toàn xã hội phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển.

II. NHIỆM VỤ, CHỈ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU :

1/ Về phát triển kinh tế :

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp từ 12 - 15%. Tạo điều kiện phát triển mạnh các thành phần kinh tế, chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị ở một số lĩnh vực, một số ngành quan trọng có khả năng quyết định sự tăng trưởng của toàn ngành. Đồng thời, thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các ngành có thế mạnh và sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều lao động như may mặc, da giày, công nghệ tiêu dùng, chế biến thực phẩm và bao bì giấy. Hoàn thiện dần các khu dân cư - sản xuất theo quy hoạch (Bình Đăng, Phường 16, Phường 7).

Phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại gắn với các định hướng quy hoạch dân cư, quy hoạch phát triển mạng lưới thương nghiệp - chợ trên địa bàn. Tập trung phát triển khu công viên văn hóa - dịch vụ du lịch phường 4, khu văn hóa - thể thao Rạch Lào. Ngoài các loại hình dịch vụ về du lịch, vui chơi giải trí, cảng, kho bãi; cần chú ý phát triển các loại hình dịch vụ đa dạng khác như thông tin, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ, tư vấn pháp lý, dịch vụ đời sống công cộng… Tiếp tục chỉnh trang, nâng cấp các chợ hiện hữu (Rạch Ông, Phạm Thế Hiển…); thực hiện có hiệu quả việc di dời các chợ tạm lấn chiếm lòng lề đường trên địa bàn; hình thành một số khu thương mại thuộc Quận. Phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm về các hoạt động dịch vụ - thương mại (tổng mức hàng hóa bán ra và dịch vụ) từ 14 - 15%.

Tiếp tục đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa. Cùng với việc hoàn thiện các khu sản xuất, khu thương mại, các khu công viên vui chơi giải trí, các khu tái định cư và khu dân cư mới, tiếp tục tập trung giải quyết về kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội (cầu đường, trường lớp, công trình phúc lợi công cộng) đáp ứng yêu cầu phát triển và tiến trình đô thị hóa; tiến hành chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường trên cơ sở tập trung giải quyết nhà ven và trên kinh rạch, tình trạng ngập nước do triều cường ở một số khu vực, nhất là Phường 15; tiến hành bê tông hóa các cầu ván, cầu xi măng đã xuống cấp trên địa bàn.

Cùng với tiến trình đô thị hóa, sản xuất nông nghiệp sẽ ngày càng giảm mạnh. Do đó, cần đầu tư hướng dẫn nông dân chuyển mạnh sang kinh tế vườn, sản xuất sản phẩm nông nghiệp có yếu tố nghệ thuật, kỹ thuật với giá trị kinh tế cao; giải quyết nước sạch, nâng cao trình độ học vấn, đời sống văn hóa, phát triển một số cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và các dịch vụ sản xuất, đời sống ở các phường nông nghiệp để thu hút lao động tại chỗ.

Một số biện pháp chủ yếu:

- Tăng cường công tác quản lý hành chính Nhà nước về kinh tế đảm bảo khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh và theo dõi, kiểm tra, kiểm soát, quản lý được hoạt động của các cơ sở và doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh.

- Chủ động các dự án đầu tư, các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

- Mở rộng hoạt động thu hút đầu tư, huy động có hiệu quả mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế, các đơn vị và cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào các dự án, xây dựng các khu dân cư - sản xuất, khu công viên-vui chơi-thể thao.

- Thành lập một bộ máy chuyên trách về công tác di dời, đền bù và tái định cư các hộ ven và trên kinh rạch, các hộ phải di dời để triển khai các dự án xây dựng. Việc di dời, đền bù và tái định cư nhà ven và trên kinh rạch đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, thời gian lâu dài, do đó, phải có kế hoạch cụ thể cho từng thời gian. Trước mắt, có kế hoạch di dời, tái định cư số nhà dọc kinh Tàu Hũ gắn với việc triển khai thi công công trình cải thiện môi trường nước  Thành phố (JICA) và công trình đại lộ Đông Tây của Thành phố; đồng thời tiến hành điều tra khảo sát và lập phương án, kế hoạch di dời, tái định cư nhà dọc Kinh Đôi.

- Tổng kết và điều chỉnh bổ sung cho phù hợp để tiếp tục thực hiện các kế hoạch chuyên đề về : phát triển đô thị; phát triển các hoạt động dịch vụ - thương mại; quy hoạch đền bù, di dời và tái định cư.

- Tích cực kiến nghị Thành phố về xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế và xã hội; giải quyết tình trạng ngập nước trên địa bàn.

2/ Chăm lo đời sống nhân dân và các mặt văn hóa - xã hội :

Về đời sống - việc làm : Trên cơ sở thực hiện xóa nghèo đồng bộ ở các khu phố, trợ vốn, hướng dẫn về sử dụng vốn và hỗ trợ về nghề nghiệp, phấn đấu làm giảm số hộ nghèo còn dưới 5%, không để phát sinh số hộ đói. Chú trọng giải quyết việc làm cho nhân dân, bình quân hàng năm cố gắng giải quyết từ 7000 - 8000 lao động có việc làm thông qua việc phát triển sản xuất kinh doanh, các dự án nhỏ, chương trình hỗ trợ dạy nghề cho quân nhân hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ. Cùng với việc đầu tư xây dựng các khu dân cư mới, cần quan tâm hỗ trợ giải quyết nhà cho người có thu nhập thấp đang rất khó khăn về nhà ở. 

Thực hiện tốt chính sách xã hội đối với những người có công với nước, các gia đình chính sách theo hướng nâng cao dần mức sống của diện chính sách.

Mục tiêu của giáo dục - đào tạo là tiếp tục nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển giáo dục phải tiến hành đồng bộ trên hai mặt : mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội xâm nhập vào học đường, thực hiện tốt các cuộc vận động "dân chủ hóa học đường","kỷ cương-tình thương-trách nhiệm". Phấn đấu giữ vững kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở để tiến tới phổ cập trung học phổ thông vào năm 2010. Thu hút 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và 90% trẻ 5 tuổi vào trường, lớp mẫu giáo; nâng cao rõ rệt hiệu suất đào tạo ở các cấp học. Xây dựng một số trường chất lượng cao và từ 1 - 2 trường đạt chuẩn quốc gia.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ phải hướng mạnh vào việc phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và gắn với việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Chú trọng công tác bảo tồn, phát huy tính giáo dục truyền thống của các di tích lịch sử văn hóa đã được công nhận; sưu tầm, thẩm định và đề nghị công nhận các di tích lịch sử trên địa bàn. Huy động có hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng các thiết chế, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nhất là các phường xa trung tâm. Đẩy mạnh các phong trào xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn minh trong giao tiếp ứng xử, trong việc cưới, việc tang và lễ hội; nhân rộng việc xây dựng khu phố văn hóa, phấn đấu xây dựng được 65 khu phố xuất sắc, trong đó có ít nhất 30 khu phố đạt tiêu chuẩn khu phố văn hoá và 2 phường văn hóa; xây dựng thí điểm 2 chợ văn minh .

Về dân số và chăm lo sức khỏe của nhân dân : tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu, đẩy mạnh công tác phòng chống HIV/AIDS, bệnh xã hội và các dịch bệnh nguy hiểm (sốt rét, thương hàn, sốt xuất huyết, viêm não…), nâng cao chất lượng khám và điều trị ở tuyến cơ sở; phấn đấu làm giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên còn 1,1% vào năm 2005. Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho thanh thiếu niên học sinh; đầu tư nâng cấp Trung tâm thể dục thể thao, phát triển các điểm hoạt động thể dục thể thao ở các cơ quan, xí nghiệp, trường học, nâng cao trình độ vận động viên năng khiếu và thành tích thi đấu.

Một số biện pháp chủ yếu :

- Đẩy mạnh thực hiện các chương trình xã hội, các cuộc vận động như : xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa - nhà tình thương, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng đời sống văn hóa.

- Tiếp tục thực hiện các Kế hoạch chuyên đề về giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 5 (khóa VIII); về giáo dục đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 2 (khóa VIII); về phát triển thể dục thể thao theo tinh thần Nghị quyết 20 của Thành ủy (khóa VI).

- Tăng cường xã hội hóa các mặt hoạt động văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế.

- Tranh thủ Thành phố sớm thi công xây dựng trường phổ thông trung học ở phường 5, phường 16; một số nhà trẻ - mẫu giáo liên phường; Trung tâm Văn hóa, Nhà Thiếu nhi tại Khu trung tâm hành chính quận ở phường 5; Trung tâm y tế tại phường 4 (trong năm 2001 - 2002).

3/ Về quốc phòng – an ninh:

Tập trung giữ vững ổn định chính trị để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho đảng viên, cán bộ và nhân dân, tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả các hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chú trọng công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh nội bộ, an ninh kinh tế.

Tiếp tục làm chuyển biến mạnh tình hình trật tự an toàn xã hội, trong đó phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội có tầm quan trọng. Đẩy mạnh công tác phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội trên cơ sở sử dụng tổng hợp các biện pháp như : tuyên truyền giáo dục; tăng cường công tác nắm tình hình, quản lý đối tượng; kiểm tra, truy quét, tấn công trấn áp và xử lý nghiêm các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, băng nhóm, bảo kê hoạt động theo kiểu xã hội đen, mua bán, tàng trữ, sử dụng các chất ma tuý. Tổ chức nơi cai nghiện và dạy nghề tại chỗ cho người nghiện ma túy; phát huy trách nhiệm của mọi người, mọi gia đình và tổ chức xã hội; kết hợp 3 môi trường giáo dục (gia đình - nhà trường - xã hội)  giáo dục phòng chống ma túy trong thanh thiếu niên học sinh. Đến năm 2005, đạt cho được 5 giảm là : ma tuý, mại dâm, trọng án, người ăn xin và hộ nghèo.

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong quá trình phát triển. Đẩy mạnh và đi vào chiều sâu phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm  phát huy tốt vai trò làm chủ của nhân dân trong việc phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh – trật tự. Củng cố và xây dựng lực lượng công an, an ninh cơ sở đủ sức giữ vững ổn định địa bàn; xây dựng các lực lượng vũ trang vững mạnh, có phẩm chất chính trị, năng lực chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu cao.

Một số biện pháp chủ yếu :

- Thực hiện vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng đối với lực lượng vũ trang và công an.

- Xác định rõ củng cố quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng các cấp, sự điều hành thực hiện của chính quyền.

- Thường xuyên bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ, các phương án phòng chống biểu tình, bạo loạn lật đổ.

- Đẩy mạnh thực hiện các kế hoạch về bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới; chương trình quốc gia về đấu tranh phòng chống tội phạm.

Từ phương hướng, nhiệm vụ trên,  cần tập trung tổ chức thực hiện có kết quả  các công trình sau :

1- Hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng phục vụ việc hoàn thành thi công xây dựng cầu và đường Nguyễn Tri Phương nối dài, cầu Nhị Thiên Đường 2 và các cây cầu khác đã được Thành phố duyệt dự án đầu tư (cầu Nguyễn Văn Cừ; Hiệp Ân 1, 2; Ba Tơ; cầu Mật; Vĩnh Mậu; Rạch Ông; số 3…).

2- Giải quyết ô nhiễm môi trường khu vực dọc rạch Ụ Cây kết hợp giải quyết nút giao thông cầu Phát Triển.

3- Đền bù, di dời, tái định cư nhà ven và trên kinh rạch.

(Mục tiêu chung là đến năm 2015 phấn đấu giải quyết về cơ bản nhà ven và trên kinh rạch. Riêng trong nhiệm kỳ sẽ cố gắng giải quyết khoảng 2.500 căn; trong đó, từ 2000 – 2003 sẽ giải quyết khoảng 1.400 căn dọc tuyến kinh Tàu Hũ gắn với công trình  cải thiện môi trường nước -JICA)

4- Bê tông hoá các cầu ván, cầu xi-măng đã xuống cấp ở các phường.

5- Hoàn thành cơ bản bê tông hoá hẻm trên địa bàn quận.

6- Hoàn thành thi công trục đường Tạ Quang Bửu.

7- Hoàn thành 6 khu chung cư tái định cư của quận ở phường 4, 5, 6, 7, 15, 16) khoảng 1.500 - 2000 căn.

8- Xây dựng nhà bán trả góp, cho thuê đối với người có thu nhập thấp (500 - 1.000 căn).

9- Hoàn thành việc xây dựng Trung tâmhành chính Quận; Nhà Thiếu nhi; Trung tâm Văn hoá; Trung tâm Y tế. Xây dựng một số trường mầm non liên phường, 2 trường cấp III, 12 trường cấp I, II; 2 trường dạy nghề.

10- Xây dựng một trung tâm cai nghiện và dạy nghề cho người nghiện ma túy trên địa bàn.

Phần thứ ba

XÂY DỰNG, KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

ĐÁP ỨNG ĐƯỢC YÊU CẦU MỚI

Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới là: ”Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có bản lĩnh lãnh đạo và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy  quản lý Nhà nước; phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp phát triển của địa phương”.

1/ Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng :

Về chính trị, tư tưởng : Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và lực lượng cán bộ khu phố, tổ dân phố về đường lối, quan điểm của Đảng, những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, của địa phương, những kiến thức mới, đảm bảo giữ gìn và phát huy sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng khối đoàn kết bền vững giữa các thế hệ đảng viên. Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin thời sự, thông tin chuyên đề, các tổ tuyên huấn phường, công tác nắm, xử lý và điều chỉnh dư luận xã hội. Các cấp ủy cần tăng cường giáo dục, xây dựng ý thức tự rèn luyện, học tập của cán bộ, đảng viên để không ngừng nâng lên về kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn; chủ động và kịp thời phát hiện, xử lý những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng chính trị, về những suy thoái “tự diễn biến hòa bình”; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy định của Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Phát động thành phong trào đảng viên và cán bộ cốt cán tiên phong, nêu gương trong công tác, học tập và lối sống có văn hóa theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở Đảng, phấn đấu giữ vững và nâng lên số cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, không để phát sinh cơ sở yếu kém. Tiếp tục xây dựng các đảng bộ phường trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương; củng cố, kiện toàn vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của các Đảng bộ cơ quan, lực lượng vũ trang, các chi bộ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần. Quan tâm công tác phát triển đảng viên mới để tiến tới thành lập tổ chức Đảng trong các trường học, phường đội, các đơn vị trực thuộc Trung tâm y tế; chăm lo kiện toàn hoạt động các chi bộ khu phố gắn với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ban điều hành khu phố, hệ thống chân rết các tổ chức đoàn thể ở khu phố, tổ dân phố, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng trên địa bàn dân cư. Tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên phải có chương trình công tác xã hội, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, để tiếp cận, gắn bó với dân, nhất là dân nghèo, gia đình thương binh liệt sĩ, người tật nguyền, bất hạnh, trẻ mồ côi,… và định kỳ hàng quý có báo cáo kết quả thực hiện chương trình xã hội đó.

Trong tổ chức và sinh hoạt, các cấp ủy cần chú trọng thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chế độ tự phê bình - phê bình thường xuyên và theo định kỳ. Trên cơ sở đó  đảm bảo dân chủ trong sinh hoạt Đảng, đảm bảo quyền của đảng viên, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chủ động phát hiện và chấn chỉnh những biểu hiện tiêu cực, địa vị, bè phái… làm mất đoàn kết nội bộ, kịp thời xử lý những đảng viên thoái hóa, biến chất. Các tổ chức Đảng cần phát huy dân chủ trong việc vận động nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, phê bình, góp ý cán bộ đảng viên; trực tiếp phân công, kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao, giữ mối liên hệ với nhân dân ở nơi làm việc và nơi cư trú; thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Đảng và nâng dần chất lượng đảng viên đủ tư cách, có nhiều đồng chí là đảng viên tiêu biểu của Đảng.

Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới. Các cơ sở có quần chúng phải làm tốt công tác phát triển đảng viên mới nhằm tăng cường sức chiến đấu, cung cấp cán bộ trẻ cho tổ chức Đảng. Chú trọng phát triển Đảng trong cán bộ nữ, đoàn viên thanh niên cộng sản, lao động giỏi và ở một số khu vực có yêu cầu như trường học, công nhân trực tiếp sản xuất, cán bộ khu phố - tổ dân phố, lực lượng dân quân. Phấn đấu có từ 2/3 cơ sở Đảng kết nạp được đảng viên, tỷ lệ đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chiếm 50%, nữ chiếm 40% trong tổng số đảng viên mới kết nạp.

Thực hiện có kết quả về chiến lược cán bộ nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển trong chuyển tiếp các thế hệ cán bộ. Tiếp tục điều chỉnh, sắp xếp, luân chuyển cán bộ nhằm tăng cường sức mạnh về tổ chức thực hiện được nhiệm vụ chính trị; đổi mới quy trình phát hiện, đánh giá và sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực thực tiễn; thực hiện công tác quản lý cán bộ theo phân công, phân cấp và việc bổ nhiệm cán bộ theo quy định. Có định kỳ rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ dự bị các cấp.

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phát triển toàn diện về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực, trước hết là cán bộ đương nhiệm và dự bị. Phấn đấu đến năm 2005, cán bộ chủ chốt Quận và đa số cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đại học và cao cấp chính trị trở lên.

Quan tâm chăm lo đời sống và thực hiện đúng các chính sách đối với cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, nhất là đối với những cán bộ cách mạng lão thành có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp phát triển của địa phương.

Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo tinh thần Quy định  75-QĐ/TW  của Bộ Chính trị, các chỉ đạo của Thành uỷ và sự phân cấp

quản lý nhằm góp phần nâng cao cảnh giác cách mạng, phục vụ có hiệu quả yêu cầu xây dựng - chỉnh đốn Đảng, công tác đảng viên, công tác phát triển đảng viên mới và công tác cán bộ trong thời kỳ mới.

Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng trên cơ sở tiếp tục thực hiện có kết quả Chỉ thị 29-CT/TW của Bộ Chính trị; kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm gắn với quá trình thực hiện nghị quyết của Đảng, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng, phát hiện, ngăn ngừa tổ chức và đảng viên có dấu hiệu vi phạm; đồng thời xử lý nghiêm đảng viên và tổ chức Đảng vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nâng cao tính chủ động và chất lượng hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp, tính tự giác rèn luyện của đảng viên. Công tác kiểm tra phải lấy ngăn ngừa là chính, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chế độ tự phê bình - phê bình, hạn chế đảng viên sai phạm phải xử lý kỷ luật.

Một số biện pháp chủ yếu:

- Sơ kết và tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung Ương 5, Nghị quyết Trung Ương 6 (lần 2) Khóa VIII về vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng.

- Củng cố, sắp xếp về tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu của Quận ủy theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 7 (khóa VIII) và đề án của Thành ủy.

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ hướng vào các nội dung : Đảng không bao biện làm thay, phân định rạch ròi giữa lãnh đạo với quản lý điều hành; xác định rõ trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, thực hiện tốt việc phân công, phân cấp và sắp xếp kiện toàn bộ máy, tinh giản biên chế; đổi mới quy trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định theo hướng giảm hội họp, mở rộng dân chủ trong Đảng, phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ và cơ sở; tăng cường công tác kiểm tra, việc sơ, tổng kết thực tiễn nhằm phát hiện và nhân rộng những nhân tố tích cực, cách làm hay, khắc phục bệnh quan liêu hành chính.

- Ban Tuyên giáo Quận uỷ, Trung tâm bồi dưỡng chính trị, các cấp uỷ cơ sở, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng nghiên cứu xây dựng các hình thức, biện pháp có chất lượng và hiệu quả cao trong việc tiến hành công tác chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng.

2/ Tiếp tục nâng cao vai trò Hội đồng nhân dân; xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả:

Tiếp tục nâng cao vai trò Hội đồng nhân dân các cấp thực sự là người đại diện của nhân dân. Các ban của Hội đồng nhân dân quận phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thẩm định việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Các đảng viên là đại biểu Hội đồng nhân dân phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người đại biểu của nhân dân và vai trò hạt nhân nòng cốt trong việc tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền; tích cực tiếp xúc, nắm và tham gia giải quyết các kiến nghị, nhu cầu bức xúc của cử tri.

Thực hiện công tác quản lý Nhà nước bằng pháp luật, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp. Từng bước hoàn chỉnh cải cách hành chính theo mô hình “một cửa, một dấu”; thực hiện tốt dịch vụ hành chính công, giảm phiền hà cho nhân dân và tuân thủ theo quy định của pháp luật. Củng cố sắp xếp, tinh gọn tổ chức và cán bộ của bộ máy Nhà nước các cấp. Thực hiện tốt chế độ tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân trên cơ sở đảm bảo quyền làm chủ, quyền bình đẳng của mọi người và tính nghiêm minh của pháp luật; triển khai rộng rãi việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Cải tiến và nâng cao cơ chế phối hợp giữa Hội đồng nhân dân–Uỷ ban nhân dân-Mặt trận, các đoàn thể; mối quan hệ trong hệ thống các cơ quan hành chính quận và giữa các cơ quan hành chính Quận với phường nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong bộ máy Nhà nước. Thường xuyên tự phê bình-phê bình nhằm xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; đào tạo,  bổ sung những cán bộ công chức có phẩm chất chính trị, lối sống và các tiêu chuẩn theo quy định; kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, xử lý nghiêm và kịp thời những người không đủ tư cách, thoái hóa biến chất, quan liêu cửa quyền, nhũng nhiễu, gây phiền hà dân.

 Một số biện pháp chủ yếu:

- Sơ kết và tiếp tục thực hiện kế hoạch về xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, sắp xếp tinh gọn bộ máy chính quyền theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) và Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII).

- Thực hiện tốt Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và các nghị định của Chính phủ về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; pháp lệnh về cán bộ công chức, chống tham nhũng, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm; Luật giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân.

- Nghiên cứu xây dựng trung tâm xử lý thông tin phục vụ  yêu cầu lãnh đạo và công tác quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước.

- Khẩn trương tiến hành các thủ tục để sớm khởi công xây dựng Khu Trung tâm hành chính quận trong năm 2001; nghiên cứu có phương án, kế hoạch để xây dựng trụ sở làm việc tập trung ở các phường.

3/ Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân:

Tiếp tục mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh thực hiện các chương trình, cuộc vận động, phong trào quần chúng nhằm động viên mọi tiềm năng, nguồn lực xã hội vào sự nghiệp phát triển của địa phương.

Tập trung mở rộng khả năng tập hợp, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, tay nghề của lực lượng công nhân - lao động.

Chú trọng nâng cao dân trí, hướng nghiệp, tạo việc làm cho nông dân trong đẩy mạnh tiến trình đô thị hóa.

Chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phát triển toàn diện, có lý tưởng cao đẹp, có tri thức và lối sống văn hóa, tích cực tham gia sự nghiệp bảo vệ và phát triển địa phương.

Thực hiện tốt các chương trình vì sự tiến bộ của phụ nữ và các nội dung bình đẳng nam nữ; tăng cường công tác cán bộ nữ và chăm lo bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em, xây dựng người phụ nữ mới.

Tiếp tục phát huy vai trò của cựu chiến binh trong công tác giáo dục truyền thống, giữ gìn an ninh - trật tự ở địa bàn dân cư, vận động nhân dân tham gia các cuộc vận động, chương trình xã hội.

Mở rộng việc tập hợp, động viên, phát huy năng lực trí tuệ, vốn liếng, tay nghề, kinh nghiệm của các tầng lớp trí thức, công thương gia, dân tộc, tôn giáo, các gia đình có thân nhân định cư ở nước ngoài tham gia vào sự nghiệp phát triển của địa phương, xây dựng khối đại đoàn kết trong nhân dân. Thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo, đoàn kết gắn bó đồng bào có đạo và không có đạo, hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần tiếp tục đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, thật sự là người đại diện, cầu nối giữa nhân dân với Đảng và chính quyền. Phải hướng vào việc chăm lo, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân; hướng mạnh về cơ sở, bám sát cơ sở, đa dạng hóa các hình thức tập hợp để đoàn kết, vận động quần chúng, phát triển lực lượng nòng cốt vào tổ chức, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng của nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng - an ninh. Nâng cao vai trò đại diện quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước ngày càng trong sạch vững mạnh.

Phấn đấu đến năm 2005, tập hợp vào các loại hình tổ chức được 30% lực lượng thanh niên, trong đó có 10% là đoàn viên thanh niên cộng sản; 30% lực lượng phụ nữ; 95% lực lượng công nhân viên chức lao động; xây dựng 100% tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đủ điều kiện theo luật định.

Một số biện pháp chủ yếu:

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác vận động quần chúng. Các cấp uỷ và đảng viên phải thực hiện tốt công tác vận động quần chúng và chịu sự kiểm tra, giám sát của quần chúng ở nơi làm việc và nơi cư trú.

- Chính quyền các cấp phải bảo đảm dân chủ trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước ở địa phương, tự giác đặt mình dưới sự kiểm tra của nhân dân; tập trung giải quyết các vấn đề dân sinh, những nhu cầu bức xúc của nhân dân.

- Phát động liên tục các phong trào thi đua yêu nước, làm cho mọi người, mọi giới, mọi tổ chức đều tích cực tham gia thi đua hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao.

- Nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở; coi trọng việc lấy ý kiến của nhân dân những vấn đề quan trọng, liên quan đến lợi ích chính đáng của đông đảo nhân dân lao động.

- Thông qua các đại hội nhiệm kỳ, thực hiện củng cố mặt trận và các đoàn thể nhân dân về tổ chức. Đoàn thanh niên cộng sản phải nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở và đoàn viên, thực sự là nguồn cung cấp cán bộ cho Đảng và chính quyền.

*

*  *

            Trong những năm đầu của thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 8 lần thứ VIII ý thức sâu sắc trách nhiệm nặng nề của mình trước yêu cầu phát triển mới của địa phương. Với truyền thống đoàn kết và cách mạng, Đại hội kêu gọi các tổ chức Đảng và đảng viên, các ngành các cấp và các tầng lớp nhân dân đoàn kết thống nhất xung quanh Ban Chấp hành Đảng bộ, ra sức khắc phục tồn tại, yếu kém, phát huy tính năng động sáng tạo, nỗ lực và quyết tâm cao để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ, mục tiêu Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 8 lần thứ VIII đề ra.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN 8 (KHOÁ VII)

Thông báo