Thứ Bảy, ngày 6 tháng 3 năm 2021

Giai đoạn tới sẽ là thời cơ cho giáo dục Việt Nam cất cánh

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ

(Thanhuytphcm.vn) - Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

Nhìn lại 7 năm thực hiện Nghị quyết 29, nền giáo dục Việt Nam đã đạt một số thành quả quan trọng. Chúng tôi phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo Phùng Xuân Nhạ về định hướng phát triển trong thời gian tới.

* Phóng viên: Thưa Bộ trưởng, những kết quả nổi bật nhất sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 29 của giáo dục Việt Nam là gì?

* Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ: Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 29, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn và nguồn lực còn hạn hẹp, song với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp có hiệu quả của các bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, sự nghiệp GD-ĐT nước ta đã tạo được chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả, được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Những thành tựu nổi bật như hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực GD-ĐT cơ bản được hoàn thiện. Chúng ta cũng đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; đây là điểm sáng trong đổi mới giáo dục của nước ta và được các nước và tổ chức quốc tế đánh giá cao. Việc thực hiện thành công mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi của Việt Nam cũng là một kết quả gây ấn tượng.

Triển khai Nghị quyết 29, ngành giáo dục cũng đã tích cực triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới. Lần đầu tiên, chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng một cách bài bản, tiếp cận quốc tế, theo một quy trình chặt chẽ, từ chương trình tổng thể đến các chương trình môn học ở các cấp học, lớp học. Chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành cuối năm 2018 được kỳ vọng giải quyết căn bản những hạn chế của chương trình hiện hành, trong đó đặc biệt là cách tiếp cận chuyển từ phương thức truyền đạt kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

Đặc biệt chủ trương một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa nhằm khuyến khích sự sáng tạo trong dạy và học của giáo viên đã có những thành công bước đầu. Cuối năm 2019, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã phê duyệt 5 bộ sách giáo khoa lớp 1, với tổng số 46 quyển của 9 môn học và hoạt động giáo dục cho phép sử dụng trong năm học 2020 - 2021. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành giáo dục nước ta thực hiện chủ trương này. Chính sách này đã phá bỏ việc độc quyền biên soạn và phát hành, tạo sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng sách giáo khoa. Đây là tiền đề, đồng thời là một bước tiến quan trọng trong đổi mới dạy và học ở bậc phổ thông.

Cùng với đó, công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn. Đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học. Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về vốn nhân lực, chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam đạt 0.69, đứng thứ 38 trên 174 nền kinh tế. Trong đó, thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển. Nhiều chỉ số về giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực. Chất lượng giáo dục mũi nhọn được thế giới đánh giá cao trên đấu trường quốc tế. Kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam những năm vừa qua có bước tiến bộ vượt bậc với 49 huy chương Vàng trong giai đoạn 2016-2020 so với 27 huy chương Vàng trong giai đoạn 2011-2015, qua đó khẳng định chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam sánh ngang với các nước có nền giáo dục tiên tiến.

Đặc biệt, tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại học có nhiều chuyển biến tích cực. Nếu như trước đây chỉ có hai Đại học Quốc gia được giao quyền tự chủ cao, thì từ năm 2014 đã có 23 cơ sở giáo dục đại học được thí điểm thực hiện tự chủ tương đối toàn diện. Hầu hết các trường thí điểm tự chủ đã có bứt phá mạnh trong đào tạo và nghiên cứu, góp phần tạo ra diện mạo mới cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên trong bảng xếp hạng Châu Á và thế giới. Năm 2019, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới; có 11 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nằm trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu Châu Á. Như vậy, mặc dù giáo dục đại học còn nhiều hạn chế, nhưng với kết quả này là điểm sáng và khẳng định chủ trương đúng đắn của Nghị quyết 29 về thực hiện thực hiện tự chủ đại học và đang đi vào cuộc sống.

Với chất lượng giáo dục liên tục được nâng lên, chi phí học tập, sinh hoạt hấp dẫn, môi trường sống an toàn, trong những năm gần đây Việt Nam đang là điểm đến được lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế. Đến năm học 2019 - 2020 đã có hơn 21.000 lưu học sinh đến từ 67 quốc gia trên thế giới; trong đó, có 14.400 sinh viên theo học các chương trình đào tạo từ đại học trở lên.

* Trong giai đoạn 5 năm tới, Bộ GD-ĐT sẽ đột phá ở khâu nào?

* Hướng đổi mới rất mạnh mà chúng tôi sẽ đột phá đó là đổi mới cơ chế quản lý. Đối với nhà nước tập trung quản lý nhà nước, đối với nhà trường tập trung quản trị. Quản lý nhà nước phải tăng cường, nhất là nhiệm vụ thanh kiểm tra. Trong quá trình thanh kiểm tra nếu thấy cần điều chỉnh cơ chế chính sách cần kịp thời điều chỉnh, chứ không phải ban hành xong là xong. 

Chúng tôi quyết tâm, những cơ sở nào kém chất lượng và có biểu hiện gian dối thì trong thẩm quyền và kiến nghị các cấp có thẩm quyền làm mạnh, để tạo ra môi trường minh bạch. Đối với bậc đại học là bậc đào tạo nguồn nhân lực thì trong chừng mực nào đó sự minh bạch sẽ sắp xếp lại các nguồn lực, điều chỉnh lại các trường.

Tôi muốn nhấn mạnh điều này, đổi mới cơ chế quản lý không tốn nhiều tiền. Giai đoạn 2015-2020, chúng tôi chọn đổi mới thi cử là khâu đột phá bởi thời đó (năm 2013) phổ biến tình trạng học tủ, học lệch, một năm nhiều kỳ thi, rồi học sinh phải tập trung lên thành phố lớn thi gây tốn kém, áp lực nên cần có đột phá. 6 năm qua, đã có nhiều nỗ lực để đổi mới thi cử, đánh giá, chuyển từ đánh giá theo điểm số, đánh giá thường xuyên theo học kỳ. Hiện chúng ta đã chuyển sang đánh giá theo quá trình, theo sự tiến bộ của người học và đến nay thi đã ổn định. Kỳ thi năm 2020 được đánh giá thành công và năm 2021, những năm tiếp theo kỳ thi sẽ ổn định theo phương thức này và chỉ có nâng cao chất lượng ngân hàng câu hỏi. Do đó, tới đây chúng tôi sẽ đột phá ở khâu đổi mới cơ chế quản lý, đặc biệt tập trung nhiều vào đại học, đây mới là bậc học rất cần phải cải tổ.

* Nói như vậy là chúng ta đã yên tâm với giáo dục phổ thông?

* Giáo dục phổ thông của Việt Nam cơ bản tốt, ở bậc học này chúng ta cần tăng cường thêm giáo dục đạo đức lối sống, kỹ năng sống, toàn diện, giáo dục thể chất. Học sinh phổ thông của Việt Nam có kiến thức tốt, nếu khai thác tốt điểm mạnh này được ở bậc đại học sẽ có nền tảng cao.

Còn trong bối cảnh tự chủ đại học, Bộ GD-ĐT sẽ tập trung rà soát, ban hành cơ chế chính sách, tạo môi trường đủ thông thoáng và chặt chẽ cho các cơ sở giáo dục đào tạo hoạt động mang tính cạnh tranh và tăng cường thanh, kiểm tra. Thanh kiểm tra không phải để siết lại mà thực chất là để qua đó “gỡ khó” cho các trường. Trong môi trường cạnh tranh, nếu một số trường đại học hoạt động không tốt sẽ ảnh hưởng tới các trường khác. Nên thực chất thanh, kiểm tra ở đây là xóa bỏ những “u nhọt” để môi trường cạnh tranh thực sự công bằng, dân chủ. Các trường và các ngành đào tạo phải thể hiện được nhu cầu của thị trường.

Chúng tôi đang triển khai rất mạnh chuẩn chương trình đào tạo đại học, tất cả các chương trình phải đáp ứng chuẩn đầu ra, các cơ sở đào tạo theo điều kiện đảm bảo trên chuẩn đó. Như vậy, những trường không đủ điều kiện không thể tồn tại được. Bộ GD-ĐT có trách nhiệm làm minh bạch và hiện nay chúng tôi đã triển khai một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia của đại học. Chủ trương của ngành là trong 5 năm tới sẽ triển khai mạnh chuyển đổi số đối với đại học, một mặt chuyển đổi số để xây dựng tài nguyên số và xây dựng phương thức đào tạo trực tuyến kết hợp với trực tiếp tốt, một mặt áp dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa điều kiện đảm bảo chất lượng. Trong quản lý, Bộ GD-ĐT sẽ hạn chế tính hành chính, tăng cường minh bạch, tạo cơ chế cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi cho người đi học, bảo vệ cho những cơ sở giáo dục đại học làm tốt, để từ đó sẽ sắp xếp được trật tự của thị trường.

Tới đây, chúng tôi tiếp tục phát huy những cái được và đã nhìn nhận ra những cái tạm gọi là “trũng”, là yếu để tiếp tục có chính sách chỉ đạo tốt hơn. Cũng có những hạn chế không cần dùng nguồn lực mà chỉ cần mạnh dạn đổi mới cơ chế quản lý, quản trị nhà trường nhằm giải phóng nguồn lực của các trường và xã hội. Tôi tin rằng, 5 năm tới giáo dục đại học của chúng ta sẽ có nhiều chuyển biến mạnh, còn giáo dục phổ thông cố gắng ổn định và từng bước đi theo hướng toàn diện. Như vậy chất lượng nền giáo dục sẽ tốt dần lên.

Tôi cho rằng giai đoạn tới đây sẽ là thời cơ cho giáo dục Việt Nam cất cánh, với đường hướng rõ ràng, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đặc biệt là quyết tâm của toàn ngành sẽ tạo ra những chuyển biến rất mạnh.

* Xin cảm ơn Bộ trưởng!

Trung Kiên


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo