Thứ Tư, ngày 27 tháng 1 năm 2021

Bản lĩnh và tinh thần quật cường của những tấm gương cộng sản trong Khởi nghĩa Nam Kỳ

Miếu Cây Quéo xã Đông Hưng Thuận – nơi tập hợp quần chúng, luyện tập võ nghệ của thanh thiếu niên chuẩn bị khởi nghĩa.

(Thanhuytphcm.vn) - Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động Trần Văn Giàu, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, khi đặt lời tựa cho cuốn sách Nam Kỳ khởi nghĩa của nhà nghiên cứu Trần Giang, đã viết: “Những người tiếp nối sự kiện vinh quang có bao giờ quên được những đàn anh đi trước đã lót đường cách mạng giải phóng dân tộc bằng chính tấm thân mình!”[1]. Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ minh chứng tiêu biểu sự hy sinh xương máu của những chiến sĩ cộng sản anh dũng kiên trung vì độc lập tự do dân tộc. Sau khi Đảng Cộng sản ra đời, tại Nam Kỳ, đặc biệt là Sài Gòn - Chợ Lớn, dù ở ngay bên trong sào huyệt lớn nhất của nền cai trị thực dân, Trung ương Đảng Cộng sản vẫn có nhiều hoạt động mạnh mẽ, xây dựng các cơ sở Đảng sâu trong lòng địch, đặc biệt đã tổ chức liên tiếp 3 Hội nghị Trung ương, Đảng bộ tất cả các tỉnh, Thành phố, quận, huyện đã gan dạ và kiên trung đi theo con đường của Đảng, lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, của quân xâm lược. Cái bản lĩnh và tinh thần quật cường ấy của các chiến sĩ cộng sản lại càng được tô đậm hơn khi đối diện với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, họ quyết tâm thực hiện, dám chấp nhận thất bại, đối diện cái tồn tại, hạn chế, để rồi cũng chính họ đã tạo nên cơn địa chấn làm rung chuyển toàn Đông Dương nói riêng và thế giới nói chung bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại mang tầm vóc quốc tế…

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, chĩa mũi nhọn vào Đảng Cộng sản. Sự chà đạp và tước đoạt của thực dân Pháp đối với nhân dân ta lên đến cực điểm cùng mưu mô đầu hàng thỏa hiệp với phát xít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp ngày càng gay gắt. Ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng đã kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng hoạt động trong các đô thị. Ngày 29 tháng 9 năm 1939, Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thông báo quan trọng nêu rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng[2].

Tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định) đã xác định: Trong hoàn cảnh mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của các dân tộc Đông Dương “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập[3]. Nghị quyết của Hội nghị được phổ biến tới các địa phương, như một luồng gió mới tiếp thêm sinh khí cho phong trào cách mạng trên cả nước.

Sau Hội nghị, địch tiến hành khủng bố ráo riết, nhiều cơ sở, tổ chức Đảng bị vỡ, nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị bắt, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị bắt tại Sài Gòn ngày 17 tháng 1 năm 1940, sau đó là các đồng chí Phan Văn Voi, Võ Văn Tần… cũng bị địch truy lùng và bắt giam, dù vậy nhưng Nghị quyết của Trung ương Đảng lúc này đã được truyền xuống nhiều cấp ủy Đảng, đặc biệt là tại Nam Kỳ, Nghị quyết đã được phổ biến, nghiên cứu và bàn cách thực hiện từ rất sớm trong các cấp Đảng bộ, trở thành nguồn ánh sáng soi đường cho hành động cho đảng viên và quần chúng cách mạng.

Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1940, Đảng bộ Nam Kỳ đã tổ chức liên tiếp nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo các tầng lớp nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đảng bộ Nam Kỳ lệnh cho tất cả các đảng viên ra sức học tập nghiêm chỉnh và kiên quyết thực hiện đường lối chính trị, chính sách khẩu hiệu đấu tranh của Đảng, xung phong gương mẫu đi đầu trong các cuộc đấu tranh, do đó đã tổ chức, lôi cuốn được đại đa số công nông và tất cả các giai cấp, dân tộc, tôn giáo vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Nhà ông Hai Hy ở Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn – nơi tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI, tháng 11 năm 1939. Nhà ông Hai Hy ở Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn – nơi tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI, tháng 11 năm 1939.

Đồng thời dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, Đảng bộ tất cả các tỉnh, thành phố, quận, huyện đã gấp rút thực hiện những nhiệm vụ mà Xứ ủy giao, công tác chuẩn bị khởi nghĩa dù phải triển khai trong một bối cảnh xã hội phức tạp và hết sức khó khăn, có thể gặp bất trắc, hiểm nguy bất cứ lúc nào, nhưng các cán bộ lãnh đạo, những chiến sĩ cộng sản vẫn luôn giữ vững tinh thần thép, bằng tất cả sự anh dũng, kiên cường, không quản nguy khó, họ đã bí mật thực hiện các khâu chuẩn bị về mọi mặt một cách chu đáo nhất, tiến tới khởi nghĩa vũ trang nhằm mục đích giành chính quyền về tay nhân dân.

Giữa lúc phong trào cách mạng ở Nam Kỳ đang phát triển mạnh thì ngày 30 tháng 7 năm 1940 đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, Xứ ủy viên và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bị bắt tại một cơ quan ở Chợ Lớn. Biết các đồng chí là cán bộ của Xứ ủy, địch dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng họ đã giữ vững những phẩm chất cao quý nhất của một người chiến sĩ cộng sản, không tiết lộ bất cứ điều gì về Đảng và cách mạng. Trong các tài liệu bị tịch thu của các đồng chí có bài thơ vô cùng cảm động và hào hùng về lá cờ đỏ sao vàng:

Hỡi những ai máu đỏ da vàng

Hãy chiến đấu với cờ thiêng Tổ quốc

Nền cờ thắm máu đào vì đất nước

Sao vàng tươi da của giống nòi

Đứng lên mau hồn nước ta gọi rồi

Hỡi sĩ - nông - công - thương - binh

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh…

Giữa tháng 11 năm 1940, trước tình hình phong trào cách mạng sôi sục, tinh thần phản chiến trong binh lính người Việt lên cao, Xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 21 tháng 11 năm 1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ đảng nhất loạt phát động nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22 tháng 11 năm 1940, các ban khởi nghĩa ở thành, quận và cơ sở đều đã khẩn trương chuẩn bị từ trước đó, chấp hành nghiêm quyết định của Xứ ủy Nam Kỳ, lãnh đạo và phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa vào đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940.

Sáng ngày 22 tháng 11 năm 1940, do sự bố trí của một tên gián điệp, chúng đã bắt được đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Như Hạnh tại số 160 đường Dayot (nay là đường Nguyễn Thái Bình) sau khi đồng chí có cuộc gặp với Trưởng ban Khởi nghĩa để nghe phổ biến lệnh khởi nghĩa; và vào 16 giờ chiều cùng ngày chúng bắt được đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy, cũng trong thời gian này Đồng chí Phan Đăng Lưu được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ trở về truyền đạt quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa do điều kiện chưa chín muồi, nhưng khi vừa về tới Sài Gòn, chưa kịp truyền đạt lệnh thì đồng chí Phan Đăng Lưu cũng bị bắt. Cuộc khởi nghĩa đã bị lộ, địch đề phòng, tìm cách dập tắt ngay cuộc khởi nghĩa, không cho nổ ra.

Ngay đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 11 năm 1940, Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra đồng loạt ở nhiều nơi, lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện cùng với cờ đỏ búa liềm, đối với những quận lỵ bị tấn công, địch nhanh chóng điều động lực lượng vũ trang tiếp viện đối phó. Ngay trong ngày 23, tên toàn quyền Đông Dương Decoux đã hạ lệnh cho cấp dưới phải khẩn cấp dùng những biện pháp có hiệu lực chận ngay lại những biến cố đã xảy ra ở Nam Kỳ. Đồng thời, tên thống đốc Nam Kỳ Veber đã ra hai nghị định cấm mọi sự tụ tập và cấm mọi người đi đêm, chính thức thực hiện thiết quân luật trên toàn đất Nam Kỳ.

Sáng ngày 23 tháng 11 năm 1940, chúng xua quân đi giải vây hoặc chiếm lại những quận lỵ và những đồn bót bị đánh. Sau đó, tiếp tục hành quân giải tỏa các con đường bị nghĩa quân cắt đứt. Chúng dùng bộ binh, xe tăng và thiết giáp với cả máy bay đánh phá, triệt hạ, giết hại nhân dân ở khắp các vùng mà cuộc khởi nghĩa đã nổ ra mạnh mẽ như ở Tân Phú Trung, Tân Mỹ, Bình Lý, Hóc Môn, tỉnh Gia Định, tỉnh Chợ Lớn, nhiều xã quận Châu Thành, Cai Lậy… tỉnh Mỹ Tho, nhiều xã ở Vũng Liêm, Tam Bình, Cầu Kè (Vĩnh Long - Cần Thơ), vùng Lái Thiêu (Thủ Dầu Một), vùng Tân Châu, Hồng Ngự (Châu Đốc)…

Riêng trong quận Chợ Mới, tại các xã Long Điền, Kiến An, Tân Phú, Tân Thành, An Phong…, vùng Cao Lãnh - Sa Đéc, Mũi Cà Mau… toàn bộ nhà cửa bị đốt trụi. Chúng cho máy bay ném bom xuống nhiều nơi ở Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long… riêng ở Chợ Giữa, chúng ném bom giữa lúc dân đang họp chợ làm chết hàng trăm người. Chúng còn cho xe thiết giáp phá hết các ruộng thuốc lá và hoa màu ở phía Tây quận Gò Vấp từ Tham Lương đến Vinh Lộc nhằm mục đích triệt phá nơi ẩn náu của du kích và những người cộng sản.

Ngày 1 tháng 12 năm 1940, toàn quyền Decoux điện cho Thống đốc Nam Kỳ cảnh báo về “những biến động có thể lặp lại sắp tới” và chỉ đạo “cần thiết dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn phiến loạn[4].

Theo báo cáo chính thức của Thống đốc Nam Kỳ, ở các tỉnh miền Đông, chủ yếu là hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, chúng đã bắt 903 người (báo cáo tháng 12 năm 1940 của thống đốc Nam Kỳ gởi toàn quyền Đông Dương), chúng ra lệnh bắt người một cách bừa bãi, người bị bắt đi quá nhiều nên không đủ chỗ nhốt, chúng phải sử dụng cả kho và sà lan đậu giữa sông làm chỗ nhốt, vì không đủ dây trói, chúng dùng cả dây kẽm sâu qua bàn tay để nối nhiều người vào với nhau. Chúng mở phiên tòa liên tiếp ở nhiều nơi để xử tử nhiều người. Các nhà tù như Côn Đảo, khám lớn Sài Gòn, nhà tù ở các tỉnh, trại giam Tà Lài, Bà Ra… vẫn không đủ, chúng còn chở nhiều người ra đổ xuống biển Đông để giảm số lượng tù nhân.

Tuy bị dồn ép, lùng sục nhưng ngay trong tháng 12 năm 1940, các đồng chí Xứ ủy còn lại tìm cách gặp nhau để thông báo tình hình chung và thấy rằng cuộc khởi nghĩa đang gặp nhiều khó khăn. Các đồng chí phân công đi các tỉnh để nối lại cơ sở và phong trào đã bị địch phá nát, nhiệm vụ đặt ra trước mắt là làm thế nào nhanh chóng lập lại tổ chức Đảng ở các tỉnh, liên tỉnh. Theo hồi kí của một số đồng chí, trong cuộc họp tháng 12 năm 1940, đồng chí Lê Văn Khương cho rằng trách nhiệm về sự thiệt hại của cuộc khởi nghĩa là do mình và cũng thể hiện mong muốn tiếp tục được chiến đấu theo lý tưởng của Đảng. Tuy không tham gia Xứ ủy sau ngày được lập lại, nhưng đồng chí Lê Văn Khương vẫn hoạt động và giữ vai trò chủ chốt trong việc móc nối cơ sở và lập lại tỉnh ủy Gia Định do đồng chí làm Bí thư. Ngày 14 tháng 5 năm 1941, địch bắt được đồng chí Lê Văn Khương. Ngày 16 tháng 6 năm 1941, Pháp đã bắn chết đồng chí không qua tòa án xét xử.

Từ đầu năm 1941, thực dân Pháp thi hành án tử hình đối với rất nhiều chiến sĩ cộng sản, chỉ trong vòng 5 tháng đã có 333 người bị đưa ra trường bắn. Lợi dụng lúc này, chúng cũng thực hiện âm mưu đen tối, giết hại nhiều đồng chí của Đảng ta. Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Tuy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến… đều bị bắt trước khi khởi nghĩa nổ ra, thậm chí có đồng chí bị bắt trước khi khởi nghĩa tới nhiều tháng vẫn bị chúng gán ghép bừa vào để xử tử. Đồng chí Tạ Uyên còn bị địch tra tấn đến chết ngay tại sở mật thám đường Catinat Sài Gòn, ngày 10 tháng 12 năm 1940… Trên đường đi đến trường bắn Giếng Nước (nay là bệnh viện Hóc Môn), các đồng chí đã xé tung miếng vải chúng bịt mắt, hô hào quần chúng tiếp tục sự nghiệp cách mạng, đánh đuổi đế quốc thực dân, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đã hô lớn:

Đả đảo đế quốc Pháp!

Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Việt Nam hoàn toàn độc lập!

Lời tuyên bố khẳng khái ấy của người nữ chiến sĩ cộng sản đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào cách mạng, vào Đảng Cộng sản và vào ngày Việt Nam hoàn toàn độc lập sẽ đến trong nay mai.

Ngày 21, 22 tháng 1 năm 1941, Xứ ủy tiếp tục triệu tập Hội nghị mở rộng sau thất bại họp tại xã Đa Phước, gồm các đại biểu của Liên tỉnh ủy miền Đông, miền Tây và một số đồng chí Xứ ủy viên cũ. Hội nghị bầu ra Xứ ủy mới gồm 13 người, do Phan Văn Khỏe làm Bí thư và Phan Văn Bảy làm Phó Bí thư. Tại đây, Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của cuộc khởi nghĩa, đồng thời chủ trương xây dựng căn cứ U Minh để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa lần thứ 2. Tiếp tục cho ra báo “Giải phóng”, làm cơ quan tuyên truyền của Xứ ủy, cử đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách, báo ra rất đều, nửa tháng một số, sau khi đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh bị bắt ngày 4 tháng 8 năm 1941, báo Giải Phóng tạm ngưng một thời gian. Những năm sau, báo “Giải phóng” lại phục hồi, tiếp tục xuất bản và cơ quan in ấn đóng ngay tại trung tâm Sài Gòn.

Ngày 31 tháng 1 năm 1941, bản tin của chính quyền thực dân về hoạt động chính trị có âm mưu lật đổ cho biết: “Các đảng viên cộng sản vùng Bà Điểm đã mở một cuộc họp nhằm mục đích đưa ra một số giải pháp liên quan đến buổi lễ tưởng niệm Lênin, chuẩn bị cho phong trào nổi dậy khởi nghĩa lần 2[5].

Nhà bà Trịnh Thị Miếng ở ấp Nam Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn – nơi hội họp của các đồng chí Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... trong những năm 1936 – 1939. Nhà bà Trịnh Thị Miếng ở ấp Nam Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn – nơi hội họp của các đồng chí Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... trong những năm 1936 – 1939.

Có thể nói, giai đoạn từ năm 1941 tới đầu năm 1945 là giai đoạn vô cùng khó khăn của Đảng bộ và phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, có đến 45.093 người bị đưa ra xét xử, trong đó có 1.663 người bị kết án tử hình, trong ngót nghét 80 năm đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chưa có cuộc khởi nghĩa nào bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt như đối với cuộc khởi nghĩa này, đây mới chỉ là số liệu thống kê chưa đầy đủ về những người bị tòa án thực dân đưa ra xét xử và kết án, chưa kể hàng ngàn người khác bị bắn không qua xét xử, bị tàn sát trong các cuộc càn quét và ném bom hoặc bị chặt đầu bêu chợ; bị tra tấn đến chết, bị bỏ xác trong nhà tù suốt mấy năm dài ròng rã… Một người Pháp đã kể lại sự man rợ trong nhà tù ở Nam Kỳ vào tháng 9 năm 1941 như sau: “Hàng dãy tù nhân, đàn ông và đàn bà ngồi, chân đút trong thanh sắt ngang có ổ còng, Họ bị buộc phải sống như thế trong cảnh thường xuyên bị đánh đập và chửi rủa của bọn coi ngục”, “những biện pháp dùng để buộc những người tình nghi phải khai báo: dùng bình điện nối dây vào bộ phận sinh dục, cho kiến đốt vào chỗ kín của phụ nữ…”[6]. Thực dân Pháp đã giam giữ tù nhân với một chế độ vô cùng hà khắc, mấy trăm người bị nhốt chung với nhau dưới thời tiết nóng bức, dưới ánh nắng mặt trời gay gắt mùa khô lại thêm thiếu nước uống, không có nước làm vệ sinh, thiếu ăn, bệnh tật, nhất là ghẻ lở, sâu quảng, hoại thư… Tất nhiên trong số những tù nhân bị giam giữ, bị đày đọa vẫn có những người là thường phạm nhưng số lượng những chiến sĩ cộng sản bị chúng giam giữ và bị hy sinh bởi những đòn tra tấn dã man của chúng vẫn chiếm đa số, nói đến đây để ta hình dung được mức độ tổn thất của cách mạng Nam Kỳ sau năm 1940 và những đau đớn mà các chiến sĩ của ta phải chịu đựng trong suốt thời gian bị giam giữ là ghê gớm như thế nào.

Thế nhưng, địch vĩnh viễn không ngờ rằng dù cho có bị bắt nhốt, có bị tra tấn dã man thì những người chiến sĩ cộng sản ấy vẫn một lòng hướng về cách mạng, vẫn tổ chức ra nhiều chi bộ Đảng tại các trại giam, tiêu biểu như tại căng Tà Lài, với sự lãnh đạo của đồng chí Trần Văn Giàu, họ đã vận động binh lính trong các Binh đoàn lưu động khi cần khởi nghĩa thì chiếm căng Tà Lài, tuyên truyền cho đồng bào thiểu số ủng hộ cách mạng, tổ chức bí mật các đội tự vệ vũ trang, luyện tập võ nghệ trong rừng, lập phương án chiếm đồn Tà Lài, họ còn bàn với nhau nếu thất bại thì vào rừng vào núi làm chiến tranh du kích… Tháng 3 năm 1941, Trần Văn Giàu cùng một số anh em vượt ngục để xây dựng lại Đảng bộ Nam Kỳ, ông gặp lại nhiều bạn bè chiến đấu đang tạm nằm im sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, phản ánh tình hình cách mạng hiện tại đồng thời bộc lộ những trăn trở suy tư, sau khi nghe tình hình, đồng chí Trần Văn Giàu xác định việc cần làm ngay lúc này là nhìn nhận và chỉ ra những sai lầm trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ để khôi phục niềm tin từ phía quần chúng nhân dân và một số cán bộ đảng viên, tránh tình trạng hoang mang lo sợ và hoài nghi về cách mạng, sau đó mới bắt đầu khôi phục lại cơ sở đảng bộ, xây dựng lực lượng để tiến hành cuộc khởi nghĩa lần thứ 2.

Đó là còn chưa kể sự gan dạ của các đồng chí chưa bị địch bắt phải trốn tránh trước sự truy lùng gắt gao của địch, trước bão táp của đàn áp, khủng bố, dù bị tổn thất nặng nề nhưng các cán bộ đảng viên, những người hoạt động cách mạng vẫn không lùi bước, họ lui về làm đủ các nghề để che mắt địch, họ làm từ thầy thuốc Đông y đến nghề bán dạo, thợ cắt tóc, thợ sửa xe, giúp việc cho các nhà thầu làm gỗ… họ bám sát quần chúng nhân dân, không ngừng tuyên truyền về Đảng về tổ chức, có những đồng chí phải ngủ ở rừng, ngủ bụi, nằm hầm hoặc đổi vùng sinh sống, thậm chí bị bắt vào tù vẫn tìm mọi cách để giúp ích cho cách mạng, họ “nằm gai nếm mật” để đợi thời cơ liên lạc móc nối nhau, xây dựng lại các cơ sở đã bị phá vỡ, dù chỉ còn 1 người còn sống, họ vẫn luôn kiên trì trong nhiệm vụ lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đa số đảng viên vẫn giữ vững khí tiết, người này bị bắt thì người khác đứng lên gây dựng lại tổ chức, quyết tâm không để cho Đảng mất và cách mạng bị tiêu diệt. Trong suốt thời gian gian khổ ấy, Trung ương Đảng lúc này vẫn luôn tìm cách liên lạc vào Nam, tìm cách nối lại với các tổ chức Đảng còn lại ở Nam Bộ. Năm 1942, đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến liên lạc được với một số tổ chức Đảng ở Sài Gòn và đưa các tài liệu về Hội nghị Trung ương lần thứ 8 vào, sau đó đồng chí bị bắt thì năm 1943, Trung ương Đảng lại phái đồng chí Nguyễn Hữu Ngoạn vào bắt liên lạc. Đồng chí đang cùng với các đồng chí khác ở Sài Gòn - Gia Định gây dựng lại cơ sở thì tháng 10 năm 1944, đồng chí lại tiếp tục bị bắt.

Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử lúc đó, các bộ, đảng viên của Đảng vững tin vào quần chúng nhân dân, vào thắng lợi tất yếu của cách mạng, giữ vững tinh thần tiên phong gương mẫu đi đầu trong các cuộc đấu tranh với địch có tính chất quyết định trong công tác vận động, tổ chức và lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc. Thật vậy, trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ địch, đảng viên của Đảng không phải chỉ chịu đựng gian khổ, xa gia đình, mà còn phải đối đầu với những cuộc tra tấn đánh đập tù đày dã man, thậm chí còn phải hy sinh cả tính mạng. Quần chúng biết rất rõ cán bộ, đảng viên của Đảng chịu đựng được tất cả những khó khăn thử thách đó, chính là vì quyền lợi của quần chúng nhân dân, của dân tộc. Cho nên họ tin theo và sẵn sàng nghe theo lời nói, hành động của cán bộ, đảng viên cộng sản. Họ sẵn sàng chịu đựng khó khăn để bảo vệ cán bộ, đảng viên của Đảng, ngay cả khi cách mạng tạm thời bị thất bại. Dựa được vào dân là có thể tồn tại và có dân là có tất cả.

Điều đặc biệt là, trước cuộc khởi nghĩa 1940, hầu hết những người dân bình thường ở Nam Bộ cũng như cả nước ít hiểu về cộng sản, về Đảng Cộng sản; nhiều người còn mơ hồ bởi những luận điệu xuyên tạc của bọn thực dân, phong kiến về những người cộng sản. Qua cuộc khởi nghĩa, trước những hy sinh dũng cảm bất khuất của hàng ngàn người cộng sản, quần chúng nhân dân càng nhận rõ: Cộng sản là những người thật sự yêu nước, những người xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Khởi nghĩa Nam Kỳ đã có tiếng vang lớn, không những trong nước mà còn làm nức lòng cả những chiến sĩ cách mạng ở Pháp. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, Đảng Cộng sản Pháp đã gửi đến Đảng Cộng sản Đông Dương một bức thư, trong đó có đoạn: “Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những người chiến sĩ đấu tranh cho tự do đã hy sinh hồi tháng 11 dưới súng liên thanh của Decoux, Beaudouin, Pétain… Chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước những người anh hùng đó, đặc biệt, chúng tôi nghiêng mình trước những anh chị em ruột thịt anh hùng là đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương”.

Ngày 14 tháng 01 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Ðội quân khởi nghĩa Nam Bộ. Sắc lệnh ghi: “Đội quân khởi nghĩa Nam bộ năm 1940 đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”. Bằng chính tấm thân mình, những người chiến sĩ cộng sản đứng trên đầu sóng ngọn gió đã trơ mình hứng chịu những cơn “trút giận” ghê gớm của địch, bằng đòn roi, bằng bom đạn, bằng những cực hình mà đến bây giờ khi đọc lại vẫn còn cảm thấy đau đớn khắp mình mẩy, cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ trên thực tế đã thất bại, bị dìm trong biển máu nhưng trên thực tế, nó là động lực vô cùng lớn, thúc đẩy thế hệ sau đứng lên viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, là thắng lợi của ý chí kiên cường, bất khuất, lòng dũng cảm, dám chấp nhận hy sinh, chứng tỏ bản lĩnh và tinh thần quật cường của những người chiến sĩ cộng sản, là niềm tin và cũng là cơ sở thực tiễn để Đảng ta đưa ra những quyết sách đúng đắn, dẫn dắt nhân dân đi đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, giành lấy độc lập, tự do và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nguyễn Võ Cường - Nguyễn Ngọc Huyền

--------------------------------------

[1] Trần Giang, Nam Kỳ khởi nghĩa 23 tháng mười một năm 1940, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 9.

[2] Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, tr.756.

[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, tr.536.

[4] Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khởi nghĩa Nam Kỳ, Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ, 2001, tr.125.

[5] Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khởi nghĩa Nam Kỳ, Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ, 2001, tr.269.

[6] Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khởi nghĩa Nam Kỳ, Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ, 2001, tr.22.


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo